BỆNH GIANG MAI

(Syphilis)

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Lịch sử bệnh

Bệnh giang mai là bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn nhạt, tên khoa học là Treponema pallidum gây nên. Bệnh có thể gây thương tổn ở da-niêm mạc và nhiều tổ chức, cơ quan của cơ thể mà chủ yếu ở cơ xương khớp, tim mạch và thần kinh. Bệnh lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục và có thể lây truyền qua đường máu, lây truyền từ mẹ sang con. Bệnh có thể gây hậu quả trầm trọng như giang mai thần kinh, giang mai tim mạch, giang mai bẩm sinh.

Một trong những câu hỏi chủ yếu của lịch sử y học trong gần 500 năm là nguồn gốc của bệnh giang mai. Một sự kiện rõ ràng rằng trong những năm cuối của thế kỷ XV là dịch giang mai đã lan tràn khắp châu Âu và giết chết nhiều người. Khi đó bệnh được đặt tên là Great Pox để phân biệt với bệnh đậu mùa (Small Pox). Bệnh được mang tên một nhân vật trong bài thơ rất nổi tiếng của Jerome Fracastoro năm 1530 là một chàng chăn cừu anh hùng tên là Syphilis. Các nhà quan sát thời đó đã hiểu rằng bệnh giang mai đặc trưng bởi các ban trên da và các tổn thương loét. Bệnh thường gây nên bệnh lý toàn thân và có thể gây tử vong cho người bệnh. Bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục. Sự xuất hiện đột ngột của dịch làm cho nhiều nhà quan sát nhận định đây là bệnh mới do đoàn thám hiểm của Columbus mang về từ tân lục địa châu Mỹ vào năm 1493. Sau đó, do chiến tranh ở châu Âu với Tây Ban Nha xảy ra, nhiều người châu Âu mắc bệnh này nên đã có thời bệnh mang tên “Iphano”. Sự trầm trọng của dịch đã gợi ý rằng có một loại vi sinh vật mới xuất hiện mà dân châu Âu trước đây chưa từng bị phơi nhiễm và do vậy họ không có miễn dịch. Những bằng chứng về lịch sử, khảo cổ học và bệnh học cổ đã chứng minh luận chứng này. Tình hình dịch bệnh giang mai ở châu Âu cũng tương tự như hàng tá các bệnh dịch khác tràn từ châu Âu, châu Phi qua châu Mỹ đã tàn phá các bộ lạc thổ dân ở châu lục này.

Tuy nhiên, cũng có những giải thích khác về nguồn gốc bệnh giang mai. Một số tác giả cho rằng giang mai đã có ở châu Âu từ trước thế kỷ XV mà trước đó không phân biệt với bệnh phong (Leprosy). Bệnh giang mai có những triệu chứng da giống bệnh phong. Theo thuyết đó, các nhiễm xoắn khuẩn khác như ghẻ cóc, pinta (Maldel pinto), giang mai dịch địa phương và giang mai hoa liễu đã là bệnh thường gặp ở châu Âu. Những thay đổi của người dân châu Âu về lối sống, điều kiện môi trường đã làm thay đổi hình thái lây truyền của bệnh. Vệ sinh tốt hơn đã làm giảm sự lây truyền da-da và con người không còn bị nhiễm xoắn khuẩn từ nhỏ nữa, do đó họ không có miễn dịch với vi khuẩn này. Sau này chỉ có những chủng xoắn khuẩn khỏe mạnh lây truyền qua đường tình dục mới sống sót và tạo nên dịch mới ở châu Âu.

Sự thực, bệnh giang mai có từ đời thượng cổ vì trong tài liệu của Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp người ta đã mô tả những thương tổn ở xương người giống hệt bệnh giang mai.

Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện thời kỳ nào cũng chưa xác định rõ. Có thuyết cho rằng bệnh có từ lúc lính của Gia Long viễn chinh sang Xiêm La (Thái Lan) mang bệnh về vào thế kỷ XVII vì vậy mới có tên là bệnh “Tiêm La”.

Ngoài xoắn khuẩn gây bệnh giang mai, người ta còn thấy một số xoắn khuẩn gây nên các bệnh khác như: bệnh Pian (ghẻ cóc) bệnh gây do xoắn khuẩn có tện là Treponema pertenue. Bệnh này gặp ở Tây Nguyên của Việt Nam và vùng Trung Mỹ như Mexico. Bệnh Pina (tiếng Bồ Đào Nha madel pinto nghĩa là vẽ màu vì bệnh này để lại các vết màu xanh). Nguyên nhân gây bệnh do Treponema carateum. Bệnh này gặp ở Nam Mỹ như Braxin, Argentina,…

1.2. Dịch tễ học bệnh

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hằng năm trên toàn cầu có 12,2 triệu trường hợp mới mắc giang mai, ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có trên 35 triệu trường hợp mới mắc các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (NTLQĐTD) trong đó giang mai chiếm 2%.

Ở Việt Nam: thời kỳ Pháp tạm chiếm, bệnh giang mai đứng hàng thứ 2 sau bệnh lậu. Sau 1954, ở miền Bắc đã bắt đầu tiến hành công cuộc phòng chống bệnh hoa liễu, tỷ lệ bệnh giảm mạnh và đến 1964 bệnh có xu hướng được thanh toán. Từ 1965, do chiến trang, sinh hoạt xã hội có nhiều xáo trộn và biến động nên các bệnh hoa liễu lại tăng lên. Đặc biệt từ năm 1975 sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bệnh tăng rõ rệt do sự giao lưu hai miền. Theo thống kê hàng năm, bệnh giang mai chiếm khoảng 2-5% tổng số NTLQĐTD. Một nghiên cứu phối hợp giữa Viện Da Liễu QG và CDC Hoa Kỳ vào năm 2003 cho thấy tỷ lệ mắc giang mai trên phụ nữ có thai là 0,5%, gái mại dâm 4,5%, bệnh nhân đến khám bệnh LQĐTD 4,0% và người nghiện chích ma túy 2,0%.

2. CĂN NGUYÊN VÀ BỆNH SINH

2.1. Tác nhân gây bệnh

Bệnh gây nên do xoắn khuẩn nhạt có tên khoa học là Treponema pallidum  do hai nhà khoa học là Schaudinn và Hoffman tìm ra năm 1905. Đây là một loại xoắn khuẩn hình lò xo có từ 6-14 vòng xoắn, đường kính ngang khoảng 0,5μ, dài từ 6-15μ. Xoắn khuẩn có thể có 3 kiểu di động: di động theo trục dọc giúp xoắn khuẩn tiến hoặc lùi, di động qua lại như quả lắc đồng hồ và di động lượn sóng.

Xoắn khuẩn giang mai là vi khuẩn yếu, ra ngoài cơ thể nó chỉ sống được vài giờ chết nhanh chóng ở nơi khô, ở nơi ẩm ướt có thể sống được 2 ngày. Nó có thể sống rất lâu ở nhiệt độ lạnh. Ở 560C chết trong vòng 15 phút. Nhiệt độ thích hợp là 370C. Xà phòng và các chất sát khuẩn có thể diệt được xoắn khuẩn trong vài phút.

2.2. Cách lây truyền

Xoắn khuẩn xâm nhập vào cơ thể người lành qua giao hợp đường âm đạo, đường hậu môn hoặc đường miệng. Tỷ lệ gây nhiễm giang mai sau một lần quan hệ tình dục khoảng 30%. Ngoài ra bệnh có thể lây gián tiếp qua các đồ dùng, vật dụng bị nhiễm xoắn trùng. Lây qua các vết xước trên da – niêm mạc khi thầy thuốc tiếp xúc mà không có bảo hiểm. Từ thương tổn nhiễm đầu tiên, xoắn khuẩn đi theo đường máu gây nhiễm trùng toàn thân. Lây do truyền máu: truyền máu hoặc tiêm chích mà bơm kim tiêm không vô khuẩn. Lây từ mẹ sang con, thường sau tháng thứ 3 (vào khoảng tuần thứ 9) của thai kỳ và gây bệnh giang mai bẩm sinh sớm hoặc bẩm sinh muộn. Phụ nữ mắc giang mai có nguy cơ lây truyền cho thai nhi trong nhiều năm nhưng nguy cơ đó giảm dần, cho đến khoảng năm thứ 8 thì hầu như ít có nguy cơ lây cho thai nhi dù không điều trị.

2.3. Phân loại

Có thể chia bệnh giang mai thành hai loại:

  • Giang mai mắc phải (acquised syphillis): mắc bệnh do quan hệ tình dục với người bệnh, gồm các thời kỳ sau:
    • Giang mai mới và lây (2 năm), gồm:

Giang mai thời kỳ I: thời gian ủ bệnh khoảng 3-4 tuần và diễn biến trong 2-3 tháng tự khỏi.

Giang mai thời kỳ II sơ phát và tái phát: với biểu hiện là đào ban giang mai, mảng niêm mạc và sau đó có thể xuất hiện những thương tổn giang mai thâm nhiễm sâu hơn vào da. Các đợ phát xen kẽ với các đợt ẩn bệnh. Thường diễn biến trong 2 năm.

Giang mai kín sớm: các thương tổn giang mai biến mất, không có triểu chứng thực thể và cơ năng. Thời gian thường trong vòng hai năm đầu.

    • Giang mai muộn và không lây (>2 năm): thường xuất hiện từ năm thứ ba trở đi, gồm các giai đoạn:

Giang mai kín muộn: trên da không có thương tổn, có thể kéo dài vài tháng hay rất nhiều năm (có thể 10-20 năm hoặc lâu hơn). Chỉ phát hiện bằng phản ứng huyết thanh hoặc có khi đẻ ra một em bé bị giang mai bẩm sinh thì người mẹ mới được phát hiện ra mắc bệnh.

Giang mai thời kỳ III: xuất hiện có thể hàng chục năm sau mắc bệnh. Thương tổn ăn sâu vào tổ chức dưới da, niêm mạc; cơ quan vận động (cơ, xương, khớp); phủ tạng như tim mạch và thần kinh.

  • Giang mai bẩm sinh (Congenital syphillis)
    • Giang mai bẩm sinh sớm: xuất hiển trong hai năm đầu sau khi sinh. Các thương tổn giống như giang mai mắc phải ở thời kỳ II.
    • Giang mai bẩm sinh muộn: xuất hiện từ năm thứ 2 sau khi sinh. Thương tổn giống giang mai thời kỳ III.
    • Di chứng của giang mai bẩm sinh: gồm các sẹo, dị hình như trán dô, mũi tẹt tạo thành yên ngựa, xương chảy cong lưỡi kiếm, tam chứng Hutchinson (răng Hutchinson, điếc nhất thời, lác quy tụ…) do thai nhi đã mắc giang mai từ trong bào thai.

3. CÁC BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

3.1. Giang mai thời kỳ I

  • Săng giang mai (chancre)

Thương tổn đơn độc, số lượng thường chỉ có một, xuất hiện ngay tại nơi xoắn khuẩn xâm nhập vào cơ thể. Săng giang mai có thể xuất hiện thông thường khoảng 3-4 tuần (khoảng 10-90 ngày) sau lây nhiễm. Săng có đặc điểm: là vết trợt nông, chỉ mất một phần thượng bì, hình tròng hay bầu dục, không có bờ nổi gờ lên hoặc lõm xuống, bề mặt bằng phẳng, màu đỏ thịt tươi. Nền của săng giang mai thường rắn, cứng như tờ bìa, đó là đặc điểm quan trọng giúp phân biệt các vết trợt khác. Săng giang mai không ngứa, không đau, không có mủ, không điều trị cũng tự khỏi. Thường kèm theo viêm hạch vùng lân cận. Vị trí khu trú: săng thường thấy ở bộ phận sinh dục (>90% các trường hợp).

  • Ở nữ: săng thường xuất hiện ở môi lớn, môi bé, mép sau âm hộ, lỗ niệu đạo, cổ tử cung.
  • Ở nam: săng thường ở quy đầu, rãnh quy đầu, thân dương vật, miệng sáo, dây hãm, bìu, xương mu, bẹn.

Với những người quan hệ tình dục qua hậu môn, săng có thể ở trực tràng hoặc quanh hậu môn. Săng còn có thể xuất hiện ở một số vị trí khác như: môi, lưỡi, amidan (do quan hệ miệng – sinh dục), ngón tay (thường ở nữ hộ sinh), trán, vú…

  • Hạch: vài ngày sau khi có săng ở bộ phận sinh dục, các hạch vùng bẹn thường bị sưng, họp thành chùm, trong đó có một hạch to hơn các hạch khác gọi là “hạch chúa”. Hạch rắn, không đau, không hóa mủ, không dính vào nhau và vào tổ chức xung quanh, di động dễ.

Nếu không được điều trị, săng sẽ tự khỏi sau 3-6 tuần làm người bệnh tưởng đã khỏi bệnh. Tuy nhiên, khi đó xoắn khuẩn vẫn tồn tại trong cơ thể và có thể truyền bệnh sang người khác. Nếu được điều trị đúng và đầy đủ thì bệnh có thể khỏi hoàn toàn ở giai đoạn này mà không chuyển sang giai đoạn tiếp theo.

3.2. Giang mai thời kỳ II

Thời kỳ thứ hai bắt đầu khoảng 6-8 tuần sau khi có săng. Đây là giai đoạn xoắn khuẩn theo đường máu và bạch huyết đi đến tất cả các cơ quan tong cơ thể nên thương tổn có tính chất lan tràn, ăn nông, có rất nhiều xoắn khuẩn trên thương tổn nên thời kỳ này rất lây, nguy hiểm nhiều cho xã hội hơn là bản thân bệnh nhân. Người bệnh thường có triệu chứng toàn thân sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, nhức đầu, sưng hạch và thương tổn da, niêm mạc. Bệnh tiến triển thành nhiều đợt, dai dẳng từ 1-2 na8mg. Các phản ứng huyết thanh trong giai đoạn này dương tính rất mạnh.

Giang mai thời kỳ II có thể chia thành: giang mai thời kỳ II sơ phát và giang mai thời kỳ II tái phát.

Giang mai II sơ phát:

  • Đào ban (roseole): là những vết màu hồng tươi như cánh đào, bằng phẳng với mặt da, hình bầu dục, số lượng có thể ít hoặc nhiều. Sờ mềm, không thâm nhiễm, không ngứa, không đau. Khu trú chủ yếu ở hai bên mạn sườn, mặt, lòng bàn tay/chân. Đào ban xuất hiện ở da đầu gây rụng tóc. Đào ban tồn tại một thời gian không điều trị gì cũng mất đi để lại vết tăng hoặc mất sắc tố loang lổ.
  • Mảng niêm mạc: là vết trợt rất nông của niêm mạc, không có bờ, có thể nhỏ bằng hạt đỗ hay đồng xu. Bề mặt thường trợt ướt, đôi khi hơi nổi cao, sần sùi hoặc nứt nẻ đóng vảy tiết, chứa nhiều xoắn khuẩn nên rất lây. Vị trí thường gặp ở các niêm mạc mép, lỗ mũi, hậu môn, âm hộ, rãnh quy đầu.
  • Vết loang trắng đen: là những vết tăng giảm sắc tố sau khi đào ban, sẩn lặn đi tạo thành các vết loang trắng đen loang lổ. Nếu thương tổn tập trung ở cổ thì gọi là “vòng vệ nữ”.
  • Viêm hạch lan tỏa: có thể thấy hạch ở bẹn, nách, cổ, dưới hàm, ụ ròng rọc. Hạch to nhỏ không đều, không đau, không dính vào nhau. Trong hạch có nhiều xoắn khuẩn.
  • Nhức đầu: thường hay xảy ra về ban đêm.
  • Rụng tốc: rụng đều, làm tóc bị thưa dần, còn gọi là rụng tốc kiểu “rừng thưa”.

Giang mai II tái phát:

  • Thời kỳ này bắt đầu khoảng tháng thứ 4 đến tháng 12 kể từ khi mắc giang mai I. Các triệu chứng của giang mai II sơ phát tồn tại trong một thời gian rồi lại mất đi cho dù không điều trị. Qua một thời gian im lặng lại phát ra các thương tổn da, niêm mạc. Đó chính là giang mai thời kỳ II tái phát. Số lượng thương tổn ít hơn, nhưng tồn tại dai dẳng hơn, thương tổn thâm nhiễm sâu hơn.
  • Các thương tổn giang mai II tái phát: đào ban tái phát có ít thương tổn hơn, nhưng kích thước mỗi vết lại to hơn, khu trú vào một vùng và hay sắp xếp thành hình vòng. Sẩn giang mai: trên các vùng da khác nhau, xuất hiện những sẩn, nổi cao hơn mặt da, rắn chắc, màu đỏ đồng, hình bán cầu, xung quanh có viền vảy, đó là các sẩn giang mai. Các sẩn giang mai rất đa dạng về hình thái: sẩn dạng vẩy nến, dạng trứng cá, dạng thủy đậu, dạng loét… Ở hậu môn, âm hộ, các sẩn thường to hơn bình thường, có chân bè rộng, bề mặt phẳng và ướt, có khi xếp thành vòng xung quanh hậu môn, âm hộ. Các sẩn này chứa rất nhiều xoắn khuẩn và rất lây được gọi là sẩn phì đại (Condylomata lata). Ở lòng bàn tay, bàn chân các sẩn giang mai có thường phẳng, dày sừng và bong vảy da theo hướng ly tâm nên thường tạo thành viền vảy mỏng ở xung quanh, gọi là “viền vảy Biette”.
  • Biểu hiện khác của giang mai thời kỳ II: có thể thấy viêm mống mắt, viêm gan, viêm họng khàn tiếng, viêm màng xương, đau nhức xương cơ đùi về đêm, viêm thận, biểu hiện thần kinh (đau, nhức đầu).

Giang mai thời kỳ III

Thời kỳ này thường bắt đầu vào năm thứ 3 của bệnh hoặc xuất hiện sau nhiều năm, thậm chí hàng chục năm sau khi các thương tổn giang mai mới đã bị lãng quên. Trước khi có kháng sinh điều trị, có tới 1/3 trường hợp sẽ bị giang mai III mà chủ yếu là giang mai thần kinh. Ngày nay ít gặp giang mai thời kỳ III vì người bệnh thường được phát hiện và điều trị sớm. Ở thời kỳ này, thương tổn có tính chất khu trú, mang tính phá hủy tổ chức, gây nên những di chứng không hồi phục, thậm chí tử vong cho bệnh nhân. Đó là thương tổn ở da, xương, thần kinh trung ương và phủ tạng, đặc biệt là tim và các mạch máu lớn. Đối với xã hội, thời kỳ này ít nguy hiểm vì khả năng lây lan hầu như không có. Giang mai III được chia làm 3 nhóm chính: giang mai thần kinh, giang mai tim mạch và giang mai muộn lành tính.

  • Giang mai thần kinh (Neurosyphillis): ngay trong thời kỳ giang mai I, II xoắn khuẩn đã xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương, bệnh có thể khỏi tự nhiên hoặc không có triệu chứng hoặc tiến triển thành viêm màng não cấp do giang mai. Những trường hợp có triệu chứng thường có biểu hiện liệt các dây thần kinh sọ não và dấu hiệu tăng áp lực nội sọ. Các dây thần kinh bị ảnh hưởng dây số 3, 6, 7 và 8. Đào ban giang mai thường xuất hiện cùng thời gian viêm màng não cấp. Xét nghiệm có tăng áp lực sọ não, tăng lympho dịch não tủy 10-200/mm3, thậm chí có thể lên đến 1000-2000/mm3, tăng protein dịch não tủy >200mg/dL, tăng globulin miễn dịch và giảm glucose. VDRL dịch não tủy thường (+).

Viêm mạch màng  não giang mai thường xảy ra 5-12 năm sau khi mắc bệnh, khi đó người bệnh khoảng 40-50 tuổi. Và thường xảy ra sau, hoặc đồng thời với liệt toàn thân, hội chứng Tabes. Biểu hiện thường gặp là liệt nhẹ hoặc liệt nửa người, thất ngôn, động kinh. Viêm mạch màng não cũng có thể gây viêm tủy sống nhưng hiếm gặp. Bệnh thường xảy ra sau khoảng 20-25 năm sau khi mắc bệnh. Biểu hiện sớm là yếu hoặc dị cảm chi dưới, tiến triển dần dần gây liệt nẹt hoặc liệt hai chi dưới. Bệnh nhân có thể là đái không tự chủ.

Sa sút trí tuệ liệt toàn bộ do giang mai với biểu hiện sa sút trí tuệ liệt, liệt toàn thể loạn thần. Biểu hiện lâm sàng là phối hợp giữa các biểu hiện bệnh lý của tâm thần và thần kinh. Nếu không được điều trị, người bệnh có thể chết sau 4-5 năm.

Hội chứng Tabes thường xảy ra sau 20-25 năm sau khi nhiễm bệnh. Biểu hiện lâm sàng gồm đau nhẹ, dị cảm, phản xạ gân giảm, đồng tử giảm đáp ứng với ánh sáng.

  • Gôm giang mai (Gomme): gôm giang mai là thương tổn đặc trưng của giang mai thời kỳ III. Gôm là một thương tổn chắc ở hạ bì, tiến triển qua 4 giai đoạn: Bắt đầu là những cục trứng dưới da, dần dần các cục này to ra, mềm dần và vỡ chảy ra dịch dính giống như nhựa cao su tạo thành vết loét dần dần lên da non rồi thành sẹo. Gôm có thể nhiều hoặc ít và có thể khu trú vào bất kỳ chỗ nào. Vị trí thường gặp là mặt, da đầu, mông , đùi, mặt ngoài phần trên cẳng chân,… Ở niêm mạc, vị trí thông thường là miêng, môi, vòm miệng, lưỡi, mũi hầu… Và có thể gôm trong não.

Nếu không được điều trị các thương tổn của giang mai III có thể phát ra dai dẳng trong nhiều năm ở trên cơ thể người bệnh. Đồng thời có thể xâm nhập vào phủ tạng, khi vỡ ra gây phá hủy tổ chức, tàn phế cho bệnh nhân và có thể đe dọa tính mạng người bệnh.

Ngoài thương tổn ở da/niêm mạc, giang mai thời kỳ III cũng thường khu trú vào phủ tạng như:

  • Tim mạch: gây phình động mạch chủ có thể vỡ gây tử vong.
  • Mắt: viêm củng mạc, viêm chống mắt, viêm màng bồ đào.

3.3. Giang mai bẩm sinh

Quan niệm cũ cho là giang mai di truyền vì khi đẻ ra trẻ đã mắc bệnh. Hiện nay, người ta xác định giang mai lây truyền do mẹ mắc bệnh giang mai lây cho thai nhi trong khi mang thai. Sự lây truyền thường xảy ra từ tháng 4-5 của thai kỳ, do mảng rau thai mỏng đi, máu mẹ dễ dàng trao đổi với máu thai nhi, nhờ vậy xoắn khuẩn giang mai sẽ xâm nhập vào thai nhi qua rau thai rồi gây bệnh. Tùy theo mức độ nhiễm xoắn khuẩn từ người mẹ vào bào thai mà có thể xảy ra các trường hợp sau: có thể xảy thai hoặc thai chết lưu, trẻ đẻ non và có thể tử vong. Nếu nhiễm xoắn khuẩn nhẹ hơn, em bé mới sinh ra trông có vẻ bình thường, sau vài ngày hoặc vài tháng thấy xuất hiện các thương tổn giang mai, khi đó gọi là giang mai bẩm sinh sớm. Giang mmai bẩm sinh có thể xuất hiện muộn hơn khi trẻ trên 2 tuổi; khi 5-6 tuổi hoặc sớm hơn gọi là giang mai bẩm sinh muộn.

  • Giang mai bẩm sinh sớm: thường xuấ hiện trong 2 năm đầu, nhưng thường gặp nhất vẫn là 3 tháng đầu. Các biểu hiện thường mang tính chất của giang mai thời kỳ thứ II mắc phải ở người lớn. Có thể có các triệu chứng sau: phỏng nước lòng bàn tay, bàn chân, thường gặp hơn là triệu chứng bong vảy ở lòng bàn tay, chân, sổ mũi, khụt khịt mũi, viêm xương sụn, giả liệt Parrot. Giả liệt Parrot thường xảy ra trong 6 tháng đầu của trẻ sau sinh, do chứng viêm xương sụn ở các xương dài với các biểu hiện: xương to, đau các đầu xương làm trở ngại vận động các chi nên gọi là “giả liệt Parrot”. Toàn thân: trẻ đẻ ra nhỏ hơn bình thường, da nhăn nheo như ông già, bụng to, tuần hoàn bàng hệ, gan to, lách to. Trẻ có thể sụt cân nhanh, có thể chết bất thình lình.
  • Giang mai bẩm sinh muộn: xuất hiện saau đẻ 3-4 năm hoặc khi đã trưởng thành. Các triệu chứng của giang mai bẩm sinh muộn thường mang tính chất của giang mai thời kỳ III mắc phải ở người lớn. Các triệu chứng thường gặp là: viêm giác mạc kẽ thường xuất hiện lúc dậy thì, bắt đầu bằng các triệu chứng nhức mắt, sợ ánh sáng ở một bên, về sau cả hai bên và có thể dẫn đến mù, lác quy tụ, điếc cả hai tai bắt đầu từ 10 tuổi, thường kèm theo viêm giác mạc kẽ. Cũng có khi trên lâm sàng, người ta không phát hiện được các dầu hiệu của giang mai bẩm sinh sớm, giang mai bẩm sinh muộn mà chỉ thấy thủng vòm miệng, mũi tẹt, trán dồ, xương chày lưỡi kiếm… Đấy chính là các di chứng của giang mai bẩm sinh do các thương tổn giang mai ở bào thai đã liền sẹo để lại.

(Tài liệu được biên soạn bởi PGS. TS Nguyễn Duy Hưng của Bộ môn Da liễu, trường Đại học Y Hà Nội)