CẤU TRÚC CỦA DA

(Structure of the skin)

1. ĐẠI CƯƠNG

Da là một cơ quan lớn nhất, chiếm khoảng 16% tổng trọng lượng của cơ thể, nằm ở mặt ngoài, tiếp xúc trực tiếp với môi trường sống.

Da là bộ phận vô cùng quan trọng, giống như một tấm áo tự nhiên bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân có hại bên ngoài và có chức năng bài tiết, điều hòa nhiệt độ cơ thể. Tổng diện tích da ở người trưởng thành là 1,2-2m2 .

Da người có 3 lớp: thượng bì, trung bì và hạ bì. Thượng bì có nguồn gốc phôi thai từ lá thai ngoài, bản chất là biểu mô. Trung bì có người gốc phôi thai từ lá thai giữa, bản chất là mô liên kết. Ngoài ra còn có các phần phụ của da như lông, tóc, móng, tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn.

2. MÔ HỌC DA THƯỜNG

2.1. Thượng bì (Epidermis)

Thượng bì là lớp ngoài cùng của da, gồm chủ yếu là tế bào biểu mô sừng (keratinocyte) chiếm tới 95%, ngoài ra còn có tế bào hắc tố, tế bào Merkel và tế bào Langerhans.

Thượng bì tác dụng như hàng rào bảo vệ da, gồm 4 lớp chính: tính từ ngoài vào trong là lớp tế bào sừng, lớp hạt, lớp gai, lớp đáy (lớp tế bào mầm). Riêng lòng bàn tay, bàn bàn chân có thêm 1 lớp sáng nằm xen kẽ giữa lớp sừng với lớp hạt (5 lớp).

Thượng bì dày khoảng 0,4-1.5mm tùy theo vị trí trên cơ thể (dày nhất ở lòng bàn tay, bàn chân, mỏng nhất ở vùng sinh dục).

Thượng bì có các lớp sau:

2.1.1. Lớp tế bào đáy (stratum basale)

Lớp này còn gọi là lớp tế bào cơ bản (basel cells), là lớp sâu nhất của thượng bì, gồm những tế bào hình trụ, nhân có trục dài, thẳng đứng. Nguyên sinh chất ưa kiềm chứa các hạt sắc tố melamin. Các tế bảo đáy có khả năng sinh sản rất mạnh để sản xuất các tế bào mới thay thế các tế bào cũ đã biệt hóa.

Trong bào tương của lớp tế bào đáy xuất hiện các sợi keratin rất mảnh tập trung từ xung quanh nhân chạy ra gắn với các cầu nối gian bào (desmosome) và nửa cầu nối gian bào (hemidesmosome) giúp các tế bào liên kết với nhau một cách vững chắc.

Thời gian cần thiết cho một tế bào đáy phân chia, biệt hóa và di chuyển tới lớp sừng khoảng 14 ngày. Thời gian ở lớp sừng đến khi thành vảy da và bong ra khoảng 14 ngày nữa. Như vậy thời gian để tái tạo toàn bộ thượng bì là khoảng 4 tuần.

Trong tế bào đáy có cấu trúc nửa cầu nối gian bào (Hemidesmosome), đó là một cấu trúc của khung tế bào đáy để nối lớp đáy với màng đáy. Hemidesmosome là thành phần quan trọng của thượng bì và có rất nhiều bệnh da có liên quan đến bộ phận này, đặc biệt nhóm bệnh da bọng nước tự miễn dưới thượng bì như bệnh Bullous, Pemphigoide, Durhing-Brocq.

Rải rác, xen giữa những tế bào đáy còn có tế bào hắc tố (melanocyte) có nguồn gốc từ các mào thần kinh, tập trung nhiều nhất ở mặt và những vùng tiếp xúc với ánh sáng. Ngoài ra, ở lớp đáy còn có tế bào Merkel.

Tế bào lớp đáy có cặp phân tử keratin là K5 (trọng lượng phân tử là 58kDa) và K14 (trọng lượng phân tử là 50kDa)

2.1.2. Lớp tế bào gai (stratum spinosum)

Còn gọi là lớp nhầy Malpighi. Là lớp tế bào hình đa diện, nằm trên lớp đáy, xếp từ 6 đến 20 hàng, càng về phía trên các tế bào càng dẹt dần. Đây là những tế bào trưởng thành của biểu bì.

Lớp gai được coi là một lớp của quá trình biệt hóa của tế bào sừng. Hình dáng, cấu trúc và đặc tính của tế bào gai có liên quan đến các vị trí trong cơ thể. Dưới kính hiển vi quang học ở cấp độ phóng đại lớn, các tế bào gai nằm sát nhau, liên kết nhai bằng hình thức “khớp mộng” cho hình ảnh các “gai”. Dưới kính hiển vi điện tử các tế bào này không nối hẳn với nhau mà chỉ tiếp xúc bằng các cầu nối gian bào, còn gọi là Desmosome.

Desmosome là cấu trúc ở bề mặt của tế bào và phụ thuộc calci do bó sợi keratin từ trong tế bào chạy ra liên kết với phần xuyên màng và gắn với tế bào sừng kề bên. Đây kết cấu rất vững chắc với các tác nhân cơ học nên chức năng của Desmosome là ổn định tế bào, hạn chế tác động từ các sang chấn. Trong một số bệnh lý, điển hình là nhóm bệnh da mọng nước tự miễn trong thượng bì như Pemphigus, các cầu nối gian bào này bị đứt gây nên các bọng nước mềm, nhẽo, vết trợt trên da và/ niêm mạc.

Nhân của tế bào gai to và rất hoạt động. Trong bào tương của tế bào gai và cả lớp hạt có chứa bào quan mới, gọi là tiểu thể Lamella (lamellar granuler) hay thể Odland, kích thước 100-500nm, đường kính 0,2-0,3nm, có dạng lá gấp lại hoặc dạng đĩa. Các tiểu thể này chứa hỗn hợp của lipid như phospholipid, sphinggolipid và cholesterol. Khi lên đến lớp tế bào hạt trên cùng, các tiểu thể này sẽ hòa mảng và giải phóng các lá lipit vào khoảng gian bào tạo thành lớp lipid gian bào, một hàng rào chắn nước rất có hiệu quả, giúp da giữ nước, tránh khô da và tham gia vào quá trình gắn kết và bong vảy của lớp sừng.

Trong lớp tế bào gai vẫn tồn tại các lá sừng chạy từ nhân tế bào ra gắn với các cầu nối gian bào và vẫn có cá keratin K5, K14. Ngoài ra còn xuất hiện thêm K1 (56,5kDa) và K10 (67kDa). Đó là những keratin đặc thù cho sự biệt hóa cho thấy quá trình sừng hóa của tế bào gai đang diễn ra mạnh mẽ.

Các tế bào gai cũng có khả năng sinh sản bằng gián phân. Hoạt động gián phân của lớp đáy và lớp gai đều mạnh mẽ và liên tục.

Trong lớp tế bào gai còn có tế bào tua di chuyển hay còn gọi là tế bào Langerhans.

2.1.3. Lớp tế bào hạt (stratum granulosum)

Lớp này là những tế bào dẹt nằm ở trên lớp gai, gồm 3-4 hàng tế bào, nhân sáng. Tế bào ở lớp này thể hiện hình ảnh sự thoái triển của tế bào biểu mô.

Bên trong bảo tương của tế bào hạt có nhiều hạt keratohyalin mà thành phần chủ yếu là tiền chất filaggrin và các lá keratin trung gian. Sự xuất hiện của các hạy này chứng tỏ quá rình sừng hóa đang diễn ra. Các phân tử keratin K1 biến đổi thành K2, K10 và thành K11. Trong quá trình chuyển dần từ tế bào hạt thành tế bào sừng, các tiền chất filaggrin sẽ chuyển thành filaggrin và là thành phần chú yếu của các yếu tố dưỡng ẩm tự nhiên (natural moiturizing factors) và vỏ tế bào lớp sừng.

2.1.4. Lớp tế bào sáng (stratum lucidum)

Lớp này chỉ có ở lòng bàn tay, bàn chân và nằm ở trên lớp hạt bao gồm những tế bào trong, thuần nhất, không có nhân, dẹt, sắp xếp thành 2 hoặc 3 hàng. Các tế bào này chứa chất eleidin, hình thành do hóa lỏng các hạt sừng trong chứa nhiều nhóm disulfid.

2.1.5. Lớp tế bào sừng (stratum corneum)

Lớp tế bào sừng (horny cells) là lớp ngoài cùng của da, có bề dày khoảng 0,1mm (100μm), dày nhất là ở lòng bàn tay, lòng bàn chân từ 0,8-1,4mm, mỏng nhất là ở mi mắt 50μm.

Đây là những tế bào có kích thước lớn nhất ở lớp thượng bì. Thành phần chủ yếu là chất sừng (keratin). Ở những lớp ngoài cùng, các tế bào sừng trở nên dẹt hoàn toàn, màng bào tương dầy, nhân biến mất, trong bào tương chỉ còn toàn những sợi sừng. Mỗi tế bào biến thành một lá sừng mỏng, chồng chất lên nhau như một bức tường gạch. Các tế bào sừng là những viên gạch và chất gian bào sừng là xi măng gắn các tế bào sừng lại với nhau, thành một khối vững chắc để chống lại các tác động từ bên ngoài. Do hiện tượng bong da sinh lí, trung bình mỗi ngày có một lớp sừng bong ra tạo nên những vảy nhỏ như vảy phán, quện với mồ hôi và chất bã tạo thành ghét.

80-85% chất keratin trong tế bào sừng là K1/K10.

Quá trình sừng hóa diễn ra liên tục giúp da luôn đổi mới. Quá trình này chịu sự ảnh hưởng của cả yếu tố bên ngoài môi trường và bên trong (gen, các yếu tố toàn thân).

Thượng bì không có mạch máu và được nuôi dưỡng bằng dịch gian bào.Các sợi thần kinh chỉ phân nhánh đến lớp đáy.

2.1.6. Các tế bào thượng bì có tua (dendric cells)

Thượng bì chứa hai loại tế bào có giả túc (có tua) là tế bào sắc tố và tế bào Langerhans.

2.1.6.1. Tế bào sắc tố

Tế bào sắc tố (melanocyte) là tế bào tua gai cung cấp sắc tố cho các tế bào sừng, tạo màu da. Tế bào sắc tố có nguồn gốc từ mào thần kinh, trong bào tương có các sợi vimentin, thường khu trú dọc theo lớp đáy của thượng bì. Tỷ lệ giữa tế bào sắc tố và tế bào đáy thay đổi từ khoảng 1/4 ở mặt đến 1/10 ở chi. Khi nhuộm bằng Hematoxylineosin (HE), tế bào sáng màu, không có tonofilament và desmosomes. Một tế bào sắc tố và một nhóm các tế bào sừng liền kề được cung cấp sắc tố còn gọi là “1 đơn vị sắc tố thượng bì”.

Tế bào sắc tố là tế bào duy nhất có khả năng sản xuất ra các hạt melanosome. Các melanosome được vận chuyển theo các giả túc của tế bào sắc tố đến một nhóm tế bào sừng (đơn vị sắc tố của thượng bì).

Các hạt melanosome sẽ biến đổi qua 4 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 chỉ chứ tyrosinase
  • Giai đoạn 2 chứa nhiều tyrosinase và một vài melanin
  • Giai đoạn 3 chứa phần lớn melanin với một vài tyrosinase
  • Giai đoạn 4 chỉ chứa melanin

Sắc tố khác nhau từ mày vàng đến màu nâu hoặc màu đen giải thích sự khác nhau về màu da trong một chủng tộc và với các chủng tốc khác. Sự khác nhau giữa các màu da, giữa các chủng tộc không phụ thuộc vào số lượng tế bào sắc tố mà phụ thuộc vào bản chất của melanin và kích thước hạt melanosome.

Sắc tố (melanin) được tạo thành do một chuỗi các phản ứng từ chất nền tyrosin qua con đường DOPA và dopaquinon dưới sự kiểm soát của nhiều loại men.

Chức năng của sắc tố là chống lại tác hại của tia cực tím (ultraviolet = UV), che trở sự sự gián phân của tế bào đáy ở thượng bì khỏi sự ảnh hưởng của các tia UV, kiểm soát sự tổng hợp vitamin D3 và điều hòa thân nhiệt tại chỗ. Số lượng tế bào sắc tố tăng khi phản ứng với sự kích thích của UV.

Ở da người có hai loại sắc tố.

  • Eumelanin: có màu nâu hoặc đen
  • Phaeomelanin: có màu vàng đỏ

2.1.6.2. Tế bào Langerhans

Là tế bào trình diện kháng nguyên, có nguồn gốc từ tủy xương, chiếm 5% tế bào thượng bì, nằm ở khắp thượng bì tạo hàng rào lưới, nhưng tập trung nhiều ở lớp tế bào gai phía trên. Mật độ thay đổi tùy vào vị trí trên cơ thể, nhiều nhất ở mặt với 600-1000 tế bào/mm2.

Tế bào Langerhans điển hình có nhân chia múi, bào tương sáng, không có desmosomes và tonofilaments, có các giả túc đi vào giữa các tế bào biểu mô sừng lên tận lớp hạt và xuống tận màng đáy. Trong tế bào chứa bào quan đặc biệt giống như hình vợt tennis gọi là hạt Birbeck.

Tế bào Langerhans có khả năng miễn dịch nhờ vai trò trình diện kháng nguyên và tăng số lượng trong phản ứng tiếp xúc. Đây chính là tiền đồn của hệ thống miễn dịch tế bào của cơ thể.

2.1.6.3. Tế bào Merkel

Tế bào Merkel được mô tả lần đầu năm 1875, có liên quan chặt chẽ với các sợi tận cùng của thần kinh da và dường như có vai trò cảm giác.

Tế bào nằm rải rác ở lớp đáy và chiếm khoảng 0,2-5% số tế bào thượng bì, có hình bầu dục dài khoảng 15μm, nhân lớn 2 múi, bào tương sáng, ít tổ chức bên trong nằm song song với màng đáy.

Tế bào Merkel phân bố không đồng đều ở các vùng khác nhau trên cơ thể. Ở vùng da nhẵn có khoảng 50 tế bào/mm2, tập trung ở gần các đầu mút của dây thần kinh cảm giác không có myelin, tạo thành phức hợp tế bào Merkel – thần kinh (Merkel cell-neurite complex). Ở những vùng da hở tiếp xúc với ánh nắng số lượng tế bào Merkel có thể gấp đôi ở những vùng da kín. Ở vùng da có lông, tế bào Merkel tập trung ở mào thượng bì (rete ridges) và vỏ ngoài nang lông (outer root sheath of the hair follicle) nơi cơ dựng lông báo vào. Chức năng của tế bào Merkel trong nang lông không rõ ràng, có thể liên quan đến chu kỳ tăng trưởng (anagen) của lông.

2.2. Trung bì (Dermis)

Trung bì là lớp thứ 2, nằm dưới thượng bì và là vùng dày nhất của da. Độ dày khác nhau tùy từng vùng của cơ thể từ 1/10mm đến bài milimet gồm các mô liên kết để giữ hạ thượng bì với hạ bì.

Trung bì và thượng bì ngăn cách nhau bởi màng đáy (hay còn gọi là màng cơ bản). Màng đáy dày chừng 0,5mm. Các dịch sẽ truyền từ trung bì ngấm qua màng đáy để nuôi dưỡng thượng bì. Ranh giới giữa thượng bì và trung bì không phải là 1 đường thẳng mà là đường lượn sóng. Phần sóng nhô lên phía trên là gai bì (hay nhú bì, hay còn gọi là trung bì nông). Phần sóng nhô lên phía trên là gai bì (hay nhú bì) gọi là mào liên gai (hay là mào liên nhú).

Cấu trúc của màng đáy gồm 4 phần:

  • Nửa cầu nối gian bào (Hemidermosome). Đường kính của nửa cầu nối gian bào khoảng 500-1000nm, gồm các sợi tơ keratin (tonofilament); sợi bám để nối màng bào tương với lá đặc (Lamina densa).
  • Lá sáng (Lamina lucida) dày khoảng 20-40nm.
  • Lá đặc (Lamina densa) dày khoảng 30-40nm, trong đó chủ yếu là collagen lớp IV.
  • Dưới là đặc (Sub-lamina densa( có nhiều bó vi sợi bản chất là collagen, chủ yếu là collagen típ VII).

Thành phần sinh hóa chủ yếu của màng đáy (BMZ) là collagen típ IV (lamina densa) và một số glycoprotein bao gồm laminin 322 (lamina lucida). Màng đáy gắn kết với tế bào đáy bởi các hemidesmosomes, đồng thời gắn kết với trung bì thông qua các sợi néo (anchoring filaments/anchoring fibrils). Các sợi néo ở thượng bì (anchoring filaments) có kích thước 5-7nm giàu laminin 332 (laminin 5) và 311 (laminin 6) liên kết với α6 β4 integrin trên bề mặt tế bào sừng. Còn các sợi néo ở trung bì (anchoring fibrils) có kích thước 20-60nm, là những dải không đều, chéo nhau và trông giống như hình đuôi chim ở cả hai đầu, cấu tạo chủ yếu là collagen típ VII liên kết giữa lá đặc với mảng néo ở trung bì. Khi có bất thường ở sợi néo sẽ làm cho vùng liên kết trung bì và thượng bì (DEJ) lòng lẻo dễ bị tổn thương như gặp trong bệnh ly thượng bì bọng nước bẩm sinh.

Trung bì gồm các lớp

2.2.1. Trung bì nông(papillary dermis)

Lớp này là lớp nuôi dưỡng, rất mỏng chỉ khoảng độ 0,1mm. Trên bề mặt có những gai nhô lên còn gọi là nhú bì hay gai bì (papille) ăn sâu vào thượng bì. Các gai do tổ chức liên kết non tạo nên, ở đó có nhiều mao mạch. Các nhú bì có chiều cao và độ lớn khác nhau tùy theo vùng da. Da ở lòng bàn tay, bàn chân các nhú có khi cao tới 0,2mm, ở da mặt thì lớp nhú rất mỏng.

2.2.2. Trung bì chính thức hay còn gọi là trung bì sâu (reticular dermis)

Đây là lớp chống đỡ, dày khoảng 0,4mm, gồm có:

Những sợi chống đỡ

  • Sợi keo hay còn gọi là sợi hồ (collagen fiber). Là chết liệu chính làm da bền vững chống lại các sang chấn bảo vệ các tổ chức bên trong. Bản chất các sợi collagen là các protein với 3 chuỗi polypeptide. Đó là những sợi thẳng không phân nhánh, dài vài micron. Cấu tạo bởi những chuỗi polypeptid, gồm 20 loại acid amin khác nhau, chủ yếu là glycin và argenin. Sợi keo có thể bị phá hủy bởi men collagenase do vi khuẩn tiết ra và được thay thế bằng các sợi mới. Sợi keo là chất liệu chính làm cho da vững chắc trước tác động cơ học, lý học, hóa học từ bên ngoài. Sợi keo tập trung chủ yếu ở trung bì sâu, một ít ở nhú bì, nang lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi, quanh mạch máu.
  • Sợi chun (Elastic fiber) (hay còn gọi là sợi đàn hồi): là một thành phần của các mô liên kết ở trung bì có tác dụng giúp da đàn hồi. Đây là những sợi mỏng, lượng sóng hoặc thành từng đoạn có kích thước từ 1-3μm, chiếm dưới 2-4% trọng lượng khô của trung bì, bắt màu đen khi nhuộm bạc, bắt màu nâu khi nhuộn accin. Đột biến gen của một trong thành phần của sợi chun gặp trong bệnh nhão da (cutix laxa)
  • Sợi lưới: sợi lưới tạo thành mạng lưới mỏng bao quanh mạch máu, tuyến mồ hôi, cấu trúc giống sợi keo.
  • Sợi liên võng (Reticulum fiber): sợi liên vọng là dạng đặc biệt của sợi tạo keo tập trung ở bì nông, phần phụ của da, mạch máu.

Các chất cơ bản: các chất cơ bản là một màng nhày gồm Trytophan, Tyrosin, Mucopolycharcarit, Hyaluronic.

Tế bào:

  • Các tế bào xơ hình thoi hoặc hình amip, có nhân to hình bầu dục, chứa nhiều hạt ty lạp thể, có tác dụng làm da lên sẹo.
  • Tổ chức bào hình thoi hoặc hình sao, nó có thể biến thành thực bào, đại thực bào.
  • Dưỡng bào (Mastocyte) tham gia quá trình chuyển hóa heparin, histamin, acid hyaluronic.

Mạch máu, trung bì chỉ có những mạch máu nhỏ tập trung ở gai bì và quanh các tuyến.

Thần kinh ở da có 2 loại:

  • Thần kinh não tủy có vỏ myelin, có nhánh đi riêng.
  • Thần kinh giao cảm không có vỏ myelin chạy trong các tế bào mạch máu.

Thần kinh da được tạo thành từ đám rối ở hạ bì, sau đó phân nhánh chạy thẳng góc tới các đầu gai bì rối tận cùng ở lớp hạt. Ngoài những nhánh này, thần kinh da còn có những nhánh cuộn tròn lại thành những tiểu thể. Có 5 loại tiểu thể:

  • Tiểu thể Vater Pacini khu trú ở đáy trung bì, có nhiều ở lòng ngón tay, chi phối xúc giác (sờ mó)
  • Tiểu thể Buffini chi phối cảm giác nóng
  • Tiểu thể Krause chi phối cảm giác lạnh
  • Tiểu thể Golgi-Mazzoni chi phối xúc giác
  • Đĩa Meckel-Ranvier và tiểu thể Meissnercho cảm giác tiếp xúc.

2.3. Hạ bì (Subcutaneous layer)

Hạ bì (còn gọi là lớp mỡ dưới da) chứa mô liên kết, nhiều mạch máu, thần kinh… đảm bảo cho da sống và thực hiện các chức năng của mình. Cấu trúc gồm nhiều tần ngăn, liên kết tạo thành nhiều ô, chứa nhiều chất mỡ.

Ở hạ bì có nhiều mạch máu lớn.

Độ dày của hạ bì tùy thuộc vào thể trạng từng người. Đây là kho dự trữ mỡ lớn nhất của cơ thể, có vai trò bảo vệ cơ học chống những sức ép, chấn động đột ngột, xem như cái gối che chở da và những cấu trúc bên dưới và có vai trò điều hòa nhiệt độ.

2.4. Các thành phần phụ của da

2.4.1. Tuyến mồ hôi (Sweat glands)

Tuyến mộ hôi là tuyến ngoại tiết, có loại đổ trực tiếp qua da , có loại đổ ở phần đầu của nang lông. Có 2 loại tuyến mồ hôi.

Tuyến bảo toàn (Eccrine gland): được phân bố trên khắp bề mặt da, trừ niêm mạc. Tùy vùng cơ thể mà số lượng tuyến mồ hôi có khác nhau. Ở lòng bàn tay, bàn chân có khoảng 620 cái/1cm2, đùi có khoảng 120 cái/cm2. Toàn bộ cô thể có khoảng 2,5 triệu tuyến.

Cấu tạo gồm 3 phần

  • Cầu bài tiết hình tròn khu trí ở trung bì sâu hoặc hạ bì, có 2 lớp tế bào giữa là những tế bào bài tiết, xung quanh có lớp tế bào dẹt bao bọc.
  • Ống dẫn đoạn qua trung bì có cấu trúc như phần cầu nhưng ít bài tiết.
  • Ống dẫn đoạn qua thượng bì có đoạn xoắn ốc, càng ra ngoài càng xoắn nhiều, gồm một lớp tế bào có nhiễm hạt sừng.

Tuyến mồ hôi làm nhiệm vụ điều hòa thân nhiệt, góp phần làm cho thân nhiệt hằng định. Sự bài tiết mồ hôi được điều chỉnh bởi thần kinh giao cảm ở xung quanh tuyến, các trung khi dọc tủy sống, vùng dưới đồi. Các chất như Pilocarpin, Cholin, Adrenalin làm tăng tiết mồ hôi, Atropin làm giảm bài tiết mồ hôi.

Tuyến đầu hủy (Aprocrine gland)

Tuyến này tập trung ở mặt, quanh hậu môn, quanh đầu vú, nách.

Cấu tạo gồm cuộn bài tiết là một ống đơn thuần gốm lớp tế bào hình trụ hoặc hình hộp nằm trên lớp màng đáy có ống dẫn đổ vào cổ nang lông phía trên tuyến bã, một số đổ trực tiếp lên da mặt. Trong quá trình bài tiết, một phần bào tương của tế bào bị tống ra ngoài.

Tuyến tiết ra chất lỏng như dầu, có khi có màu. Ban đầu chấy này không mùi, khi lên đến mặt da do tác động của vi khuẩn có thể có mùi đặc biệt gây ra hôi nách.

2.4.2. Tuyến bã (Sebaceous glands)

Tuyến bã là tuyến ngoại tiết nằm cạnh nang lông, đổ chất tiết vào nang lông mỏ ra ở da, tạo da mềm mại, chống thấm nước, chống khô da.

Mỗi tuyến bã có nhiều thùy, mỗi thùy gồm nhiều lớp tế bào: ngoài cùng là những tế bào trẻ giống tế bào lớp cơ bản, rối đến lớp tế bào to chứa những hạt mỡ, trong cùng có những lớp tế bào chứa đầy mỡ làm căng vỡ tế bào, rồi chảy ra ngoài thành chất thành chất bã (sebum). Ống tiết được cấu tạo bởi tế bào sừng. Chất mỡ đào thải qua ống tuyến lên mặt da.

Có 2 loại tuyến bã nang lông:

  • Tuyến bã nang lông dài: nằm ở da đầu, râu, lông nách, lông mu. Tại những nơi lòng bàn tay, bàn chân không có tuyến bã.
  • Tuyến bã nang lông tơ: tuyến bã nang lông tơ nằm ở khắp nơi trên cơ thể trừ lòng bàn tay, bàn chân không có tuyến bã.

Tuy tuyến bã nang lông tơ có kích thước nhỏ hơn tuyến bã nang lông dài nhưng tế bào tuyến hoạt động mạnh hơn, có kích thước lớn hơn, bài tiết chất bã nhiều hơn. Ở mặt, tuyến bã phát triển gấp 5 lần ở những nơi khác. Số lượng tuyến bã thay đổi khác nhau tùy vùng trên cơ thể. Ở da đầu, mặt, ngực, lưng, tầng sinh môn có từ 400-900 tuyến/cm2 da. Các vùng còn lại có khoảng 100 tuyến/1cm2 da. Tuyến bã ở miệng (hạt fordyce) và ở rãnh quy đầu (tuyến tyson) không đổ qua ống tuyến mà bài tiết trực tiếp lên niêm mạc.

2.4.3. Nang lông (Hair follicles)

Lông là biến dạng nhiễm keratin của thượng bì. Nang lông là phần lõm sâu xuống của thượng bì chứa sợi lông và tiếp cận với tuyến bã. Cấu tạo của nang lông bao gồm: chất cơ bản của lông, sợi lông, lớp vỏ trong, lớp vỏ ngoài, gai lông. Các tế bào hắc tố có trong phần chất cơ bản của lông tạo nên màu sắc cho sợi lông.

Ở người có 2 loại lông:

  • Lông nhẵn hay còn gọi là lông tơ: là sợi lông ngắn bao phủ phần lớn cơ thể trừ lòng bàn tay, bàn chân.
  • Lông dài là những sợi lông dài, cứng và có đường kính lớn hơn lông nhẵn. Lông dài nằm ở các vùng da đầu (tóc), xung quanh miệng (râu), lông nách, lông mu.

Ngoài ra, thai nhi còn có lông tơ mịn mượt, lông này sẽ rụng đi trước khi sinh 2 tháng.

Một sợi lông gồm có 3 phần: phần nằm trên thượng bì; phần mọc xuyên qua thượng bì, phần nằm ở trong chân bì (trung bì). Phần nằm trong chân bì gọi là rễ lông được bao bọc bởi một vỏ gọi là nang lông. Nang lông có 3 lớp: lớp bao biểu mô ngoài, bao biểu mô trong và bao xơ.

Mỗi nang lông có 3 phần:

  • Miệng nang lông thông ra mặt da.
  • Cổ nang lông (hay còn gọi là phễu nang lông): tại đây có miệng tuyến bã thông ra ngoài.
  • Bao nang lông là phần dài nhất ăn sâu xuống hạ bì.

2.4.4. Móng (nails)

Móng là biến dạng của da, ở các đầu ngón tay, ngón chân. Móng là một tấm sừng mỏng dày chừng 0,3-0,5-0,75mm nằm gọn trong một rãnh của mặt lưng (mu) đầu ngón.

Móng có 4 bờ, bờ tự do nằm ở đầu móng, ba bờ còn lại được các nếp da phủ lên gọi là bờ sau và 2 bở bên. Bờ sau và nếp gấp vùng gốc móng gọi là nếp gấp trên móng. Phần móng ở bờ sau có hình vát gọi là rễ móng. Phần còn lại dày đều, hình khum gọi là thân móng. Thượng bì ở dưới móng tiếp với thượng bì da ở nếp gấp sau và các nếp gấp bên. Phần gốc móng có hình bán nguyệt gọi là liềm móng. Thượng bì ở dưới rễ móng gọi là mầm móng, đó là lớp sinh sản, có lớp malpighi khá dày. Những tế bào ở mầm móng phát triển từ đáy mầm ra thân móng và dẹt đi biến thành lá sừng đắp vào mặt dưới của móng. Bản móng mọc liên tục từ gốc móng ra bờ từ do. Mỗi ngày móng mọc dài ra khoảng 0,1mm. Móng chân mọc chậm hơn móng tay. Càng nhiều tuổi móng càng mọc chậm. Thời gian thay thế hoàn toàn 1 móng tay khoảng 3 tháng, móng chân 6 tháng.

2.4.5. Niêm mạc

Khác da ở chỗ không nhiễm keratin. Các lớp nông ở niêm mạc gồm tế bào có nhiều lỗ hổng dẹt và sẽ bong đi chứ không nhiễm keratin, còn các lớp tế bào gai, lớp hạt giống như da nhưng dày hơn.

(Tài liệu được biên soạn bởi PGS. TS. Trần Lan Anh của Bộ môn Da liễu, trường Đại học Y Hà Nội)