BỆNH LUPUS BAN ĐỎ

( Lupus erythematosus)

1. LỊCH SỬ BỆNH HỌC

Từ thời Hypocrates, các triệu chứng lâm sàng giống bệnh lupus đã được mô tả, nhưng mãi đến năm 1230, lần đầu tiên Rogerius Frugard mới sử dụng từ “ lupus” để chỉ các bệnh có tổn thương bị xâm lấn ở mặt. “ Lupus” theo tiếng Latinh có nghĩa là “chó sói”.

Năm 1827, nhà da liễu Pháp Rayer lần đầu tiên mô tả chi tiết các triệu chứng của bệnh này. Năm 1851, Cazenave mô tả một số bệnh giống lao da và đặt tên là lupus ban đỏ. Sau đó, F.V.Herbrs nghiên cứu các thương tổn nội tạng, đặc biệt là gan, thận và tim mạch. Trong một thời gian dài, nhiều bệnh có thương tổn tương tụ cũng được mô tả với nhiều tên gọi khác nhau như: viêm da tiết bã, lao da, hồng ban hạt, hồng ban teo da…

Năm 1872, Kaposi dựa trên tiến triển lâm sàng và đặc trưng của từng giai đoạn đã mô tả hai thể bệnh của lupus ban đỏ: cấp tính và mạn tính. Sau đó William Osler đề cập đến các biến chứng nội tạng của lupus ban đỏ cấp tính hệ thống.

Trải quan nhiều thời kỳ, bệnh lupus ban đỏ đã được đặt tên, phân loại với nhiều tên khác nhau như: lupys ban đỏ mạn tính, cấp tính, bán cấp, lupus ban đỏ hình đĩa, lupus ban đỏ rải rác, lupus ban đỏ hệ thống…

Năm 1941, Paul Klanperer coi bệnh lupus như một trong những bệnh collagen có cơ chế tự miễn ( autoimmune). Năm 1949, Philip Hench sử dụng corticoid để điều trị căn bệnh này và có kết quả rất tốt.

Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, cơ chế bệnh sinh của lupus đỏ đã được xác định một cách cơ bản. Dựa trên những nghiên cứu về căn sinh bệnh học, biểu hiện lâm sàng tiến triển bệnh, ngày nay người ta chia lupus đỏ thành các thể chính:

–   Lupus đỏ hình đĩa kinh diễn.

–   Lupus đỏ hệ thống.

2. LUPUS BAN ĐỎ HÌNH ĐĨA KINH DIỄN

( Chronic Lupus Discoid Erythematosus – CDLE)

2.1.Căn sinh bệnh học

Cho tới nay người ta vẫn chưa hiểu rõ căn sinh bệnh học của lupus đỏ hìnhđĩa kinh diễn. Tuy nhiên nhiều yếu tố có liên quan đã được đề cập:

–   Ánh nắng mặt trời.

–   Nhiễm trùng.

–   Rối loạn miễn dịch: đây là yếu tố được quan tâm nhất. Tuy nhiên vì không tìm thấy kháng thể kháng chuỗi kép và chuỗi đơn AND, hơn nữa nồng độ bổ thể trong huyết thanh vẫn bình thường nên người ta cho rằng cơ chế bệnh sinh của lupus đỏ hình đĩa kinh diễn và lupus đỏ hệ thống là khác nhau.

2.2. Triệu chứng lâm sàng

Bệnh biểu hiện chỉ ở da. Các triệu chứng thường xuất hiện vào mùa hè. Thương tổn hay gặp ở vùng hở. Tuy nhiên chúng có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào trong cơ thể.

Dát đỏ: Hay gặp ở trán, má, tai, đầu. Các dát đỏ tiến triển lan rộng ra xung quanh và hơi nổi cao hơn mặt da.

Dày sừng: Bắt đầu ở lỗ chân lông, khó bong.

Teo da: ở vùng trung tâm các dát đỏ có hiện tượng teo da rõ.

Một số ít bệnh nhân có các thương tổn ở môi, miệng.

Các thương tổn có thể quá sản, phì đại ( hypertrophic form).

3. LUPUS ĐỎ HỆ THỐNG

( Systemic Lupus Erythematosus: SLE)

Lupus đỏ hệ thống là một trong những bệnh tự miễn hay gặp nhất. Bệnh tiến triển dai dẳng, suốt đời với các thương tổn ở nhiều cơ quan như da, khớp, hạch bạch huyết, gan, thận, tim, phổi…

Từ năm 1903, Osler đã mô tả các thương tổn nội tạng của lupus đỏ hệ thống. Năm 1948, Hangraves mô tả tế bào LE ( lupus erythematosus) ở bệnh nhân SLE.

Năm 1958, Frious và cộng sự xác định kháng thể kháng nhân ( ANA: antinuclear antibody) bằng miễn dịch huỳnh quang.

3.1. Căn sinh bệnh học

Căn sinh bệnh học của bệnh rất phức tạp, tuy nhiên các giả thuyết, yếu tố sau đây được đề cập nhiều nhất:

–   Di truyền: đây là một trong những quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu trong những năm gần đây. Người ta đã xác định được các “gen” có liên quan đến bệnh, đó là HLA-B8, HLA-DR3, HLA-DRw52, HLA-DQw1…

–   Rối loạn miễn dịch: có hiện tượng mất cân bằng trong hệ thống miễn dịch ở các bệnh nhân lupus đỏ hệ thống. Các lympho T không kiểm soát được hoạt động của các lympho B. Khi cơ thể bị nhiễm trùng kinh diễn hay các yếu tố ngoại lai tác động ( ánh nắng, hóa chất, thuốc…) các tế bào bị biến đổi và trở thành “lạ” đối với cơ thể mình ( hay còn gọi là tự kháng nguyên). Lympho B không bị kiểm soát sẽ tăng sinh để suất một lượng lớn các tự kháng thể chống lại các tự kháng nguyên đó. Tự kháng thể kết hợp với các tự kháng nguyên tạo thành các phức hợp miễn dịch lắng đọng tại các mao mạch, cơ quan, tổ chức cùng với các bổ thể gây nên các hiện tượng bệnh lý.

Một số yếu tố có liên quan tới bệnh:

–   Giới: bệnh hay gặp ở nữ giới, trẻ tuổi.

–   Thuốc: một số thuốc có khả năng gây bệnh gống như lupus đã được xác định là hydralazine, procainamide, isoniazid, sulfonamides, phenitoin, penicillamine. Các thuốc tránh thai cũng có vai trò trong việc khởi động hay làm bệnh nặng thêm.

–   Nhiễm trùng: đặc biệt là các nhiễm trùng kinh diễn.

–   Ánh nắng mặt trời.

3.2. Triệu chứng lâm sáng

3.2.1 Thương tổn da và niêm mạc

Dát đỏ: Đây là thương tổn rất hay gặp trong lupus đỏ hệ thống. Đầu tiên, các dát đỏ hình cánh bướm ở hai má, mặt. Các dát này hơi phù, tồn tại trong nhiều tuần nhiều tháng. Sau một thời gian bệnh tiến triển nặng hơn các thương tổn này xuất hiện thêm ở tay, chân hay bất kỳ một vùng nào trong cơ thể. Các dát này rất nhạy cảm với ánh nắng. Một số dát có thể khỏi để lại vết thâm hay teo da.

Dát xuất huyết: hay gặp ở bàn tay, bàn chân.

Bọng nước: hiếm gặp hơn.

Loét: Ở các đầu ngón tay, ngón chân do hội chứng Raynaud.

Niêm mạc: loét miệng, hầu, họng, mũi, thường không đau.

Rụng tóc: tóc xơ, dễ gãy và có thể rụng thưa hay rụng lan tỏa toàn bộ. Tuy nhiên tóc có thể mọc lại khi lui bệnh.

3.2.2. Toàn thân

Sốt, mệt mỏi, gầy sút là những biểu hiện hay gặp, đặc biệt trong giai đoạn bệnh tiến triển.

3.2.3. Khớp

Đây là triệu chứng hay gặp nhất, có thể đến hơn 90% bệnh nhân có biểu hiện viêm khớp, đau khi cử động, đi lại. Các khớp hay bị viêm là khớp gối, cổ tay, ngón chân. Các ngón tay có thể biến dạng ( cổ ngỗng) giống viêm đa khớp dạng thấp.

3.2.4. Viêm cơ

Gặp khoảng 30%. Các cơ bị viêm thì yếu, đau ít.

Triệu chứng này hồi phục nhanh sau điều trị bằng corticoid.

3.2.5. Thận

Thương tổn thận gặp khoảng 60% các bệnh nhân lupus đỏ hệ thống. Đây là biểu hiện nặng và có ý nghĩa để tiên lượng bệnh. Biểu hiện ở thận được phân theo 5 mức độ như sau:

–   Độ 1: Không có thương tổn ( sinh thiết thận bình thường) và không có biểu hiện lâm sàng.

–   Độ 2: Tăng sinh tế bào và lắng đọng phức hợp miễn dịch ở thận. Protein niệu nhẹ. Đáp ứng tốt với corticoid.

–   Độ 3: Viêm thận lupus tăng sinh từng ổ ( focal proliferative lupus nephritis). Có thể có hội chứng thận hư. Đáp ứng tốt với corticoid liều cao.

–   Độ 4: Viêm thận tăng sinh lan tỏa.

–   Độ 5: Ít gặp, rất nặng, viêm thận màng, huyết áp cao.

3.2.6. Tim mạch

Có thể có viêm ngoại tâm mạc ( pericarditis) có tràn dịch, khoảng 25% bệnh nhân có nhịp nhanh. Tim to, suy tim, xơ vữa mạch vành cũng có thể gặp trong giai đoạn cuối của bệnh.

Viêm nội tâm mạc ( endocarditis) cấp và bán cấp do vi khuẩn có thể phối hợp với thương tổn van tim.

3.2.7. Phổi

Triệu chứng hay gặp nhất là đau ngực do viêm màng phổi. Có thể có tràn dịch màng phổi. Viêm phổi thâm nhiễm do lupus gặp khoảng 10% bệnh nhân với triệu chứng khó thở.

3.2.8. Thần kinh, tâm thần

Có thể có rối loạn phương hướng, tri giác, trí nhớ.

Đôi khi có đau đàu dữ dội, hoặc có động kinh hoặc rối loạn tâm thần. Có biểu hiện của rối loạn vận động như múa giật, múa vờn. Các triệu chứng của bệnh tâm thần có thể nặng thêm trong trường hợp dùng corticoid liều cao kéo dài.

3.2.9. Tiêu hóa

Nôn, buồn nôn, chán ăn gặp khoảng 20% bệnh nhân.

Đau bụng ít gặp nhưng là một triệu chứng rất quan trọng. Có thể có viêm gan, xơ gan.

3.2.10. Hạch bạch huyết

Hạch ngoại biên to, đặc biệt là giai đoạn bệnh nặng và ở trẻ em. Hạch to có thể phối hợp với gan, lách to.

3.2.11. Huyết học

Thiếu máu huyết tán vừa hoặc nặng là triệu chứng rất hay gặp trong lupus đỏ hệ thống. Bạch cầu giảm dưới 4G/l, trong khi tiểu cầu dưới 100G/l thường ít găp hơn.

Tốc độ máu lắng tăng cao.

(Tài liệu được biên soạn bởi GS. TS. Trần Hậu Khang của Bộ môn Da liễu, trường Đại học Y Hà Nội).