NHIỄM KHUẨN Ở MÓNG

(Nail infection)

1. VIÊM QUANH MÓNG DO VI KHUẨN

1.1. Chín mé

Là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính dọc theo bờ quanh móng ở ngón tay hoặc ngón chân. Nếu không được điều trị, tình trạng nhiễm khuẩn có thể lan tỏa gây viêm lấy toàn bộ ngón tay hoặc ngón chân.

Nguyên nhân thường gặp nhất là do vi khuẩn (tụ cầu). Bệnh có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, sau một sang chấn như cắn móng, mút ngón tay, hóa chất… tạo điều kiện cho vi khuẩn thâm nhập vào da gây bệnh. Biểu hiện lúc đầu thường đầu ngón sưng, nóng, đỏ. Bệnh nhân có triệu chứng cơ năng đau nhức nhiều, có thể có sốt. Sau một đến hai ngày, tổn thương hóa mủ màu trằng ngà, ở vùng quanh móng, nắn đau. Việc điều trị cần kết hợp giữa thuốc kháng sinh toàn thân, sát khuẩn tại chỗ và điều trị ngoại khoa rạch tháo mủ làm sạch thương tổn.

1.2. U hạt nhiễm khuẩn

U hạt nhiễm khuẩn (Botryomycosis) là một phản ứng viêm nhiễm khuẩn mạn tính. Tụ cầu vàng là nguyên nhân thường gặp nhất, sau đó đến Pseudomonas aeruginasa. Ngoài ra, một số vi khuẩn khác cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh như Proteus hoặc Escherichia coli.

Tổn thương thường xuất hiện ở ngón tay hoặc ngón chân, sau một sang chấn hoặc sau cắt móng quá sâu, gây tình trạng móng chọc thịt. Nhất là những bệnh nhân mắc bệnh AIDS. Sinh bệnh học của viêm quanh móng và u hạt nhiễm khuẩn cho đến nay còn chưa rõ. Những chất ức chế protease (thuốc điều trị HIV/AIDS) có thể gây phản ứng viêm. Sự ức chế protease nội sinh có thể giải thích sự phì đại ban đầu của nếp móng và sự phát triển tiếp sau đó của u hạt nhiễm khuẩn. Ngoài ra, yếu tố tăng trưởng mạch máu cũng tham gia vào quá trình sinh bệnh học với cơ chế tương tự. Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng. Điều trị bằng kết hợp sát khuẩn tại chỗ, loại bỏ thương tổn sùi bằng đốt điện, laser CO2 hoặc phẫu thuật và kháng sinh toàn thân. Trường hợp tái phát hoặc diễn biến kéo dài cần xem xét điều trị móng chọc thịt.

1.3. Lao da (Cutaneous tuberculosis)

Lao da là bệnh nhiễm khuẩn da mạn tính, do trực khuẩn lao có tên khao học là Mycobacterium tuberculosis gây nên. Bệnh thường gặp ở những nước kém phát triển như ở Ấn Độ, số bệnh nhân (BN) mắc bệnh lao chiếm khoảng 2% số bệnh nhân mắc các bệnh da. Có nhiều thể lao da khác nhau. Ở móng thường gặp thể lao cóc. Trực khuẩn thâm nhập vào da do tiếp xúc trực tiếp hay do tai nạn nghề nghiệp (bác sĩ thú y, người là nghề sát sinh), đôi khi tự lây truyền ở những bệnh nhân bị lao. Thương tổn trên da lúc đầu là những sẩn màu đỏ nhạt, cứng, ấn kính không xẹp, các sẩn lớn dần, không tạo thành mảng, giữa thương tổn dày sừng sau đó sùi lên nứt nẻ, có thể có mủ. Xung quanh có một vùng thâm nhiễm màu tím thẫm trên có vảy da lẫn vảy tiết, ngoài cùng có một vùng sung huyết màu đỏ. Vị trí chủ yếu ở các ngón tay, quanh móng. Tiến triển lâu năm, lan ra xung quanh và để lại sẹo. Mô bệnh học ở giai đoạn đầu có hình ảnh của nang lao. Giai đoạn sau biểu bì quá sản, lớp sừng và lớp gai bị kẹp dài sâu xuống trung bì, xét nghiệm trực khuẩn lao có thể dương tính.

1.4. Viêm da dạng viêm quầng (Erysipeloid)

Viêm da dạng viêm quầng là nhiễm khuẩn cấp tính do vi khuẩn Erysipelothrix rhusiopathiae gây nên. Vi khuẩn có thể gây bệnh ở cả người và động vật. Người mắc bệnh do tiếp xúc trực tiếp với thịt có nhiễm E.rhusiopathiae. Dạng đơn độc thường gặp ở tay, chủ yếu ở rìa ngón tay và quanh móng. Tổn thương cơ bản là mảng da đỏ nâu, bề mặt nhẵn, bóng hơi nồi cao trên mặt da, giái hạn rõ. Tổn thương móng và chắc khi sờ nắn.

1.5. Viêm quanh móng do các vi khuẩn khác

Viêm quanh móng do v khuẩn gram âm (Pseudomonas), Mycobacteria không điển hình,… Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào xét nghiệm mô bệnh học và nuôi cấy định danh vi khuẩn. Điều trị dựa vào kháng sinh đồ kết hợp làm sạch tổn thương.

2. VIÊM QUANH MÓNG DO NẤM

2.1. Viêm quanh móng mạn tính

Bệnh thường gặp ở những người nội trợ hoặc là việc thường xuyên trong môi trường nước ẩm ướt. Viêm qunah móng thường do nấm enzym kết hợp vi khuẩn. biểu hiện lâm sàng có thể ở một hay nhiều móng. Bờ quanh móng viêm đỏ, tụt lên phía trên. Tình trnagj vem kéo dài đôi khi có đợt cấp tính sưng nóng đỏ đau, khi ấn có mủ. Nhiều đợt viêm cấp sẽ gây ra tình trạng bề mặt móng sần sùi với những rãnh ngang nông hình gợn sáng. Móng có màu nâu đen, đôi khi có hiện tượng móng nhỏ hoặc teo móng.

2.2. Bệnh Candida da và niêm mạc mạn tính

Là tình trạng bệnh lsy do nhiễm nấm Candida, chủ yếu do Candida albican, từ ngay sau sinh hoặc ở trẻ nhỏ, tiến triển mãn tính ở nhữung bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Ngay từ rất sớm, tẻ có thể nhiễm nấm ở tóc, vùng da nhẵn, miệng, viêm mạc sinh dục ở móng. Những mảng dày sừng có thể xuất hiện trên đầu, ở đầu chi, miệng với viêm góc môi là điển hình của bệnh. Hệ móng tiến triển loạn dưỡng hoàn toàn ở tất cả các móng, với những ổ viêm hạt và giả ngón dùi trống. Mô bệnh học cho thấy tổn thương mầm móng rất rõ ràng, không sản xuất ra keratin bình thường mà chỉ có những mảnh vụn keratin.

2.3. Viêm quanh móng do vi nấm khác

Nhiễm nấm Aspergillus hay Scopulariopsis brevicaulis có thể gây viêm quanh móng bán cấp hối hợp với sự xuất hiện đốm trắng ở dưới móng và vùng gốc móng. Viêm qunah móng kết hợp với hiện tượng tăng sắc tố ở móng thường do Scytalidium dimidiatum gây nhiễm.

3. VIÊM QUANG MÓNG DO VIRUS

3.1. Herpes simplex

Bệnnh herpes đơn dạng do HSV (Herpes simlex virus) là một trong các bệnh nhiễm trùng thường gặp trên thế giới. Có hai chủng này đều tồn lưu trong hạch thần kinh cảm giác sau khi nhiễm trùng tiên phát. Các sang chấn nhỏ ở vùng da quanh móng tạo dièu kiện cho virus xâm nhập vào các tế bào biểu mô. HSV có thể lây nhiễm do tiếp xúc với người bệnh như khi chơi thể thao gây va chạm, tiếp xúc của nhân viên y tế bị nhiễm virus, hoặc HSV trong cơ chể người bệnh lây nhiễm sang vùng da khác như tật cắn móng tay, mút tay làm lây nhiễm virus từ miệng.

Biểu hiện lâm sàng: cũng như biểu hiện của herpes ở da và viêm mạc, trước khi có biểu hiện tổn thương ở móng, bệnh nhân có cảm giác ngứa, dấm dứt tại chỗ. Sau đó xuất hiện một dát đỏ phù nề, trên có nhiều mụn nước ở dưới móng hoặc quanh móng. Các mụn nước thường đứng thành từng cụm, từ 2-10mm mụn nước, thường căng tròn kích thước bằng đầu đinh ghim hoặc to hơn, bên trong chứa dịch vàng chanh hoặc trong suốt. Có khi các mụn nước liên kết với nhau thành bọng nước nhỏ, các mụn nước, bọng nước sắp xếp thành hình vòng cung. Khi các bọng nước xuất hiện thì cũng là lúc triệu chứng cơ năng bớt dần. Tiến triển tự khỏi trong vòng 1-2 tuần, nhưng hay tái phát.

3.2. Bệnh Orf

Là bệnh lây truyền từ cừu do virus Parapox gây nên. Bệnh hay gặp ở những người chăn cừu d tiếp xúc trực tiếp với các tổn thương ở loài động vật này. Tổn thương cơ bản là mụn mủ ở vùng quanh móng. Mụn mủ tồn tại từ 7-10 ngày và có thể tự khỏi.

Tóm tắt nguyên nhân của viêm quanh móng

Nhiễm khuẩnVirusNấm Ký sinh trùng
Erysipeloid

Mycobacterium marinum

Phong

Pseudomoas

Tụ cầu

Liên cầu

Giang mai

Lao cóc

Tularemie

Actinobacillus

Actinomycetemcomitant

Herpes

Nodule des

trayeurs

Orf

Mụn cóc

Pernio

Aspergillus niger

Blastoschizomyce

Capitatus

Candida spp

Tungose

Leishmaniose

 

(Tài liệu được biên soạn bởi PGS.TS. Nguyễn Hữu Sáu)