UNG THƯ TẾ BÀO GAI

(Squamous cell carcinoma – SCC)

1. ĐẠI CƯƠNG

Ung thư tế bào gai (Squamous cell carinoma-SCC) là ung thư khởi phát tử tế bào sừng của da và niêm mạc. Ung thư tế bào vảy chiếm khoảng 20% các ung thư da và đứng hàng thứ hai sau ung thư tế bào đáy. Khác với ung thư tế bào đáy, ung thư tế bào vảy có thể xâm lấn và di căn xa.

Trên thế giới, ung thư tế bào vảy hay gặp ở những người da trắng với tỷ lệ mới mắc ở Mỹ khoảng hơn 100/100.000 dân, ở Úc là 250/100.000 dân, ở Pháp là 30/100.000 dân. SCC ít gặp hơn ở những người có loại da IV-V theo phân loại của Fitzpatrick như người châu Á.

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ung thư da nói chung cũng như SCC nói riêng còn hạn chế. Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, số bệnh nhân bị SCC đến khám và điều trị ngày càng tăn với 178 bệnh nhân chiếm 30,5% số bệnh nhân ung thư da trong 3 năm từ 2007 đến 2009.

2. TRIỆU CHỨNG

2.1. Thương tổn cơ bản

Ung thư tế bào gai điển hình thường gặp trên các thương tổn da tiền ung thư (dầy sừng ánh sáng tỷ lệ ung thư hóa 0,1-10%, bạch sản tỷ lệ ung thư hóa 4-17%), các sẹo bỏng, viêm da tia xạ hay một thương tổn da mạn tính, viêm loét mạn tính do chít hẹp bao da quy đầu. Sau một thời gian tiến triển kéo dài, trên thương tổn da mạn tính xuất hiện sùi hoặc mảng cứng nổi cao, chắc, màu hồng đến màu đỏ, loét dễ chảy máu, đóng vẩy tiết nâu đen. Trường hợp không điều trị kịp thời, khối ung thư phát triển nhanh, xâm lấn xuống tổ chức xung quanh và di căn xa. Khối u có thể loét, chảy máu, nhiễm khuẩn, mùi hôi thối, điều trị nội khoa không có tác dụng. Tình trạng di căn có thể tới các hạch lân cận hoặc di căn xa đến các cơ quan nội tạng.

Một số thương tổn đặc biệt của ung thư tế bào vảy.

– SCC quanh miệng thường gặp ở môi dưới với biểu hiện sẩn, trợt đỏ cứng, trên một viêm môi ánh sáng trước đó, bạch sản ở người hút thuốc lá, thuốc lào, hay ăn trầu. Do đó, đứng trước bệnh nhân có thương tổn môi có tiền sử hút thuốc, ăn trầu cần khám kỹ và làm sinh thiết để loại trừ SCC.

– SCC quanh móng: thương tổn dễ nhầm với hạt cơm, thường chỉ chẩn đoán ra khi có sinh thiết.

– U quá sản sừng (keratoacanthoma)

  • Tiền sử chấn thương, tiếp xúc ánh nắng, hoặc nhiễm virus HPV 11, 16.
  • Xuất hiện nhanh trong vài tuần.
  • Tổn thương là nốt màu đó, nổi cao, bóng, trung tâm có tổ chức sừng giống miệng núi lửa.
  • Bệnh có thể khỏi tự nhiên sau vài tháng.
  • Liên quan đến một số bệnh lý da khác như: hội chứng Ferguson Smith, Gryzbowski, Muir-Torre.

– Ung thư tế bào gai khu trú (SCC in situ)

  • Tổn thương ung thư tế bào gai chỉ khu trú ở biểu bì mà chưa xâm lấn quá màng đáy.
  • Tổn thương tiến triển chậm, nhiều năm.
  • 26% trường hợp ung thư tế bào gai khu trú tiến triển thành thể xâm lấn.
  • Bệnh Bowen (Bowen’s disease) là ung thư tế bào gai khu trú ở da.

Mảng màu hồng hoặc đỏ lửa, trên có vảy, giới hạn rõ với da lành.

Vị trí ở vùng da tiếp xúc với ánh nắng.

Nếu gặp nhiều thương tổn Bowen ở vùng da không tiếp xúc với ánh nắng cần kiểm tra tiền sử tiếp xúc arsen, hoặc nhiễm HPV.

Không liên quan đến các ung thư nội tạng như ung thư phổi, tiêu hóa.

– Hồng loạn sản Queyrat (Erythroplasia of Queyrat) là ung thư tế bào gai khu trú ở niêm mạc sinh dục nam.

  • Mảng đỏ giới hạn rõ, bề mặt ướt.
  • Vị trí ở qui đầu hoặc vùng da qui đầu mặt trong.
  • Nam giới chít hẹp bao da qui đầu.
  • Liên quan đến nhiễm HPV.

2.2. Triệu chứng cận lâm sàng

2.2.1. Mô bệnh học

Có các  tế bào sừng ác tính, nhiều nhân chia, nhân quái, mất phân cực, có thể xâm nhập sâu xuống trung bì, có dầy sừng và á sừng. Mức độ biệt hóa khác nhau, có thể xâm nhập thần kinh. Bao giờ cũng phải đánh giá 3 yếu tố: mức độ biệt hóa tế bào, độ sâu của xâm nhập tế bào ung thư, sự thâm nhiễm xung quanh thần kinh.

Trên mô bệnh học SCC thể hiện đa dạng theo nhiều thể khác nhau, vì vậy trong một vài trường hợp rất khó phân biệt với các khối u ác tính khác của da hoặc với các thương tổn tiền ung thư. Hóa mô miễn dịch với các marker đặc hiệu sẽ giúp phân biệt, với các khối u ác tính khác: SCC có mặt của cytokeratin (CK) và kháng nguyên màng biểu mô (epithelial membrane antigen-EMA) để phân biệt với angiosarcomas (dương tính với vimentin và CD-34), với ung thư hắc tố (dương tính với S100 và HMB45), fibroxanthoma (dương tính với vimentin). Thương tổn tiền ung thư: Ki67 thường xuấ hiện với tỷ lệ cao hơn ở thương tổn SCC so với thương tổn dầy sừng ánh sáng (KA). Với các SCC thể sùi, có tác nhân HPV phải thực hiện sinh thiết sâu để phân biệt với các thương tổn do HPV lành tính.

2.2.2. Xét nghiệm khác

  • SCC tại chỗ, tiền ung thư: không cần thiết
  • SCC xâm nhập: tìm các thương tổn ung thư di căn
  • Siêu âm: tìm hạch di căn
  • Petscans kỹ thuật chụp cắt lớp dùng phân tử phóng xạ fluorodeoxyglucose (FDG) có thể phát hiện các khối u ác tính với kích thước nhỏ một vài milimet, nhưng đây là kỹ thuật đắt tiền.

3. PHÒNG BỆNH

  • Tránh ánh sáng mặt trời: mặc quần áo dài tay, mang mũ rộng vành, sử dụng kem chống nắng đúng quy cách. Đặc biệt cho trẻ em, những người da trắng (loại da 1, 2), những người làm nghề tiếp xúc nhiều với ánh sáng. Tránh nắng vào thời điểm 12-16 giờ.
  • Điều trị tích cực các tổn thương da mạn tính như loét mạn tính, viêm da do quang tuyến, lao da…
  • Chẩn đoán và điều trị sớm tổn thương tiền ung thư.
  • Tiêm vaccin phòng nhiễm HPV.

4. KẾT LUẬN

Ung thư biểu mô tế bào vảy đứng thứ hai trong các loại ung thư da, tiên lượng  tốt nếu phát hiện sớm và xử trí đúng đắn, nhưng rất dè dặt nếu di căn hạch, nội tạng và xử trí không đúng.

(Tài liệu được biên soạn bởi PGS. Nguyễn Hữu Sáu của Bộ môn Da liễu, trường Đại học Y Hà Nội)