VIÊM DA DO BỌ CHÉT

( Flea dermatitis )

1. ĐẠI CƯƠNG

Bọ chét thuộc bộ Siphonaptera, không có cánh. Bọ chét sống kí sinh bên ngoài nhờ hút máu của những động vật máu nóng, có vú và loài chim. Có tới trên 2.200 loài bọ chét. Trong đó có những loài thường gặp là:

–   Bọ chét mèo ( Ctenocephalides felis): vật chủ chính của bọ chét là mèo nhà nhưng loài này cũng lây nhiễm cho phần lớn các loài chó trên thế giới. Bọ chét mèo cũng có thể có chu trình sinh học trên các loài động vật ăn thịt khác và trên loài thú có túi.Loài người cũng có thể bị bọ chét mèo cắn nhưng không thể bị lây nhiễm vì lí do bọ chét này không thích ứng được với môi trường trên vật chủ lạc chỗ là người.

–   Bọ chét chó ( Ctenocephalides canis).

–   Bọ chét người ( Pulex irritans) : có vai trò truyền bệnh dịch hạch từ người sang người.

–   Bọ chét chuột phương Bắc ( Nosospsyllus fasciatus ).

–   Bọ chét chuột phương Đông (Xenopsylla cheopis) : là một loài côn trùng kí sinh trên các động vật gặm nhấm, chủ yếu là chuột và đóng vai tro là trung gian truyền bệnh dịch hạch và sốt phát ban chuột. Sự lan truyền bệnh xảy ra khi bọ chét hút máu loài gặm nhấm và sau đó hút máu người. Bọ chét chuột phương Đông được biết đến nhiều vì nó đóng vai trò trong reo rắc ‘ Cái chết đen ‘ bệnh dịch hạch.

Hiểu biết về sinh thái của các loài bọ chét là rất quan trọng, giúp chúng ta nắm được sự phân bố của chúng trên thế giới, mật độ, khả năng gây bệnh và truyền bệnh của chúng.

Bọ chét là loài kí sinh trùng biến thái hoàn toàn. Vòng đời của bọ chét khoảng 20 đến 35 ngày phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm của môi trường. Bọ chét phát triển trong điều kiện nóng ẩm, thích hợp ở nhiệt độ 21-35ºC và độ ẩm 70-85%. Gặp điều kiện không thuận lợi, nhiệt độ đột ngột hạ thấp thì bọ chét ngừng phát triển và tồn tại kéo dài vài  tháng đến một năm. Ở môi trường trong nhà bọ chét sinh sản quanh năm, ngoài trời chỉ phát triển vào những tháng ấm. Ở miền Bắc nước ta, bọ chét phát triển nhiều vào tháng 2 tháng 3 khi thời tiết chuyển từ mùa đông sang mùa xuân hè.

Vòng đời cuả bọ chét có 4 giai đoạn : giai đoạn trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành. Vòng đời được bắt đầu từ bọ chét cái đẻ trứng.

Điểm đặc biệt của bọ chét trưởng thành là khi có khả năng sinh sản thì chúng mới hút máu. Cả bọ chét đực và cái đều hút máu. Bọ chét trưởng thành có thể nhịn đói và sống được vài tháng. Bọ chét cái chỉ đẻ trứng sau khi đã hút máu. Sau mỗi lần hút máu, mỗi bọ chét cái đẻ từ 2 – 20 trứng. Suốt cuộc đời một bọ chét cái đẻ khoảng 800 trứng. Trứng có thể dính trên da, lông của vật chủ hoặc rơi xuống đát. Vì vậy, thường những vùng đất mà vật chủ ngủ hoặc trú ngụ là môi trường sống đầu tiên của trứng để phát triển thành ấu trùng bọ chét.

Sau khoảng 2 – 14 ngày, tùy theo điều kiện môi trường, chúng nở thành ấu trùng không có chân. Ấu trùng sống ở đất, phát triển bằng cách thay lông và lột xác 3 lần trong vòng 8 đến 24 ngày. Ấu trùng có thể kéo dài thời gian phát triển trên 6 tháng trong điều kiện không thuận lợi. Ấu trùng bọ chét sống ở các kẽ sàn nhà, ga trải giường, thảm và ở chỗ ngủ của động vật.  Chúng không có chân nhưng chuyển động bằng lông cứng trên cơ thể. Ấu trùng thích chỗ tối, ẩm ướt, ở đó chúng ăn những mảnh chất hữu cơ như phân của bọ chét trưởng thành, phân và những mảnh thức ăn thừa của vật chủ.

Trước khi chuyển sang giai đoạn nhộng bất hoạt, ấu trùng bọ chét phát triển đầy đủ các bộ phận rồi tự nhả tơ quấn xung quanh mình để tạo thành kén (nhộng). Giai đoạn nhộng kéo dài từ 5 – 7 ngày nhưng có thể đến một năm trong những điều kiện không thuận lợi.

Bọ chét trưởng thành có kích thước nhỏ, dài khoảng 1,5 – 3,3 mm, mau đỏ thẫm hoặc đen, đôi chân sau thay đổi, trở nên dài, to mập để nhảy. Bọ chét trưởng thành có thể nhảy cao đến 18 cm và xa đến 33 cm. Thân chúng dẹt ở hai bên, lưng có những gai hướng về phía sau làm hoạt động của chúng chỉ tiến về phía trước xuyên vào lông, tóc của vật chủ và giúp chúng không bị tuột ra ngoài. Bọ chét trưởng thành tồn tại ở trong kén cho đến khi gặp vật chủ thích hợp. Tùy theo điều kiện của môi trường, bọ chét trưởng thành có thể ở trong kén tới 5 tháng để chờ vật chủ. Trong kén, bọ chét trưởng thành nhận biết được sự có mặt của vật chủ thích hợp bằng cảm nhận hơi nóng,  mùi của cơ thể vật chủ, luồng khí, rung động của sàn và môi trường xung quanh. Khi phát hiện được vật chủ thích hợp, bọ chét chui ngay ra khỏi cắn và tìm tới vật chủ. Đặc điểm sinh thái này chính là lí do thấy bọ chét trưởng thành xuất hiện khi người ta trở về nhà sau chuyến du lịch hoặc khi dọn đến nhà mới. Bọ chét tránh ánh sáng, thường tìm thấy trong các đám lông tơ, lông vũ của động vật hoặc ở giường ngủ, quần áo của người. Do có khả năng nhảy rất xa cho nên khi vật chủ bị chết, bọ chét có thể nhảy tìm vật chủ khác. Bọ chét thường kí sinh ở chó, mèo, chuột và nhảy sang người.

2. NHẬN DẠNG

–   Bọ chét trưởng thành có kích thước 0,5 – 3,5 mm

+   Màu sắc thay đổi từ hơi nâu đỏ đến nâu đen ( bọ chét chó hoặc mèo).

+   Không có cánh, thân dẹt theo 2 bên, người có nhiều gai xuôi về phía sau.

+   Hai càng sau mập và dài, dùng để nhảy.

–   Ấu trùng dài 4 – 10 mm, màu trắng, không có chân nhưng rất cơ động.

–   Nhộng được ngụy trang tốt vì rất dính và nhanh chóng được các hạt bụi, cát mịn bao quanh.

3. GÂY BỆNH VÀ TRUYỀN BỆNH

3.1. Bọ chét truyền bệnh

3.1.1. Truyền bệnh dịch hạch

Dịch hạch đã xuất hiện từ thời cổ xưa, tồn tại đến ngày nay. Trong vòng 2.000 năm qua đã gây bốn trận đại dịch với số tử vong khủng khiếp trong lịch sử nhân loại. Nhất là 2 đại dịch vào thế kỷ VI làm chết gần 40 triệu người và thế kỷ XIV nổi tiếng với tên Trận Dịch Đen thời trung cổ, ước tính gây tủ vong cho khoảng 25 triệu người châu Âu, 40 triệu người châu Á, châu Phi. Đến năm 1895, Alexandre Yersin là người đầu tiên phát hiện ra căn nguyên của dịch hạch. Bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm do vi khuẩn Yersinia pestis gây ra. Đây là loài bệnh của thú vật truyền sang người.

Bọ chét là vật chủ trung gian truyền bệnh dịch hạch. Đầu tiên dịch hạch xảy ra ở các loài động vật hoang dại như chuột và một số loài gặm nhấm khác. Kh chúng bị chết, bọ chét sẽ rời vật chủ sang đốt người và có thể truyền bệnh cho người. Loại bọ chét chuột phương Đông (Xenopsylla cheopis) đóng vai trò chính trong việc truyền bệnh dịch hạch từ chuột sang người. Bọ chét chuột phương Đông không có hàm răng lược ở hàm và ở ngực. Đặc điểm này được dùng để phân biệt với các loại bọ chét mèo, bọ chét chó và những loài bọ chét khác. Sau đó bệnh có thể truyền từ người sang người bởi họ chét người ( Pulex irritans). Dịch hạch là bệnh có ổ dịch từ thiên nhiên, rất nguy hiểm bởi vì nó xảy ra rộng rãi ở các quần thể loài gặm nhấm. Trước đây, dịch hạch được gọi là ‘cái chết đen’ và là nguyên nhân gây ra các vụ dịch thảm khốc. Hiện nay, dịch hạch vẫn còn là bệnh rất nguy hiểm vì nó thường xảy ra rộng rãi ở các quầ thể của các loại gặm nhấm. Ở vùng nông thôn, vùng miền núi, dịch hạch xảy ra khi con người đi vào vùng tiếp xúc với các loài động vật hoang dã. Nguy hiểm nhất là những người thợ săn, họ có thể bị bọ chét đã nhiễm bệnh dịch hạch chích đốt trong khi mang vác các động vật vừa giết được. Ở các đô thị, dịch hạch có thể xảy ra khi chuột sống quanh những khu dân cư bị nhiễm bệnh.

Ở Việt Nam trong thập niên 1960 – 1970, là nước đã báo cáo có số lượng bệnh nhân dịch hạch nhiều nhất nhì thế giới với hàng ngàn trường hợp xảy ra hàng năm. Tại các vùng Nam Bộ và ven Tây Nguyên, do đặc điểm rừng núi, hoang dã nên thường xuyên có dịch hạch xảy ra nhiều hơn miền Bắc .

Bệnh dịch hạch được biểu hiện bằng 3 thể lâm sàng là thể hạch, thể phổi và thể nhiễm trùng máu :

Thê hạch : bọ chét đã nhiễm vi khuẩn Yersinia pestis đốt người, truyền sang người Yersinia pestis gây viêm, sưng đau hạch vùng, kèm sốt trên 38ºC. Các hạch bạch huyết chứa đầy vi khuẩn, đặc biệt là hạch ở nách và bẹn. Nếu chẩn đoán và điều trị đúng, kịp thời thì bệnh nhân sớm khỏi bệnh. Nếu không được phát hiện, điều trị sớm thì tỷ lệ tử vong có thể chiếm tới 50%.

Từ hạch, vi khuẩn dịch hạch vào máu gây nhiễm trùng huyết. Vi khuẩn nhân lên làm các nội tạng bị nhiễm độc tố gây nhiễm trùng toàn thân, xuất huyết, thân thể tím đen, viêm màng não… Bệnh nhân sẽ sốt cao 40 – 41ºC, rét run đau đầu dữ dội, tiêu chảy và nôn mữa nhiều lần, hốt hoảng, vật vã, kích động, nói sảng, thở nhanh nông.

Thể phổi : có những tổn thương tại phổi, lây lan rất mạnh do vi khuẩn dịch hạch dễ dàng phát tán từ người bệnh sang người lành qua nước bọt, đờm dãi khi ho hoặc hắt hơi. Bệnh nhân sốt cao, rét run, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, bức rứt. Khoảng 24 giờ sau bệnh nhân sẽ thấy đau tức ngực, khó thở, thở nhanh nông. Ho có đờm nhầy và loãng sau đặc dần, có máu hoặc có nước bọt. Nếu không được điều trị sớm thì hầu hết tất cả các trường hợp đều tử vong.

Thể phổi có hai loại : thể phổi nguyên phát do vi khuẩn dịch hạch được hít vào bằng đường hô hấp ( thường gặp ở thợ săn, những người sử dụng đồ lông thú), những vi khuẩn dịch hạch khi hít phải sẽ thâm nhập vào phổi gây viêm phổi tiên phát,  viêm hoại tử phổi, nhiễm độc dẫn đến suy hô hấp, tử vong. Thể phổi thứ phát là viêm phổi, bệnh nhân khạc ra máu, ra đờm. Trong đờm và máu có vi khuẩn dịch hạch, người ngoài hít phải vi khuẩn dịch hạch từ đờm bệnh nhân trở thành viêm phổi tiên phát rất nặng.

Để chẩn đoán sớm dịch hạch, cần lưu ý đến khu vực sinh sống có bọ chét, chuột, nhất là khi phát hiện có chuột chết, sau đó người bị sốt, nổi hạch… thì nhanh chóng đi khám bệnh. Với những người hay làm thịt chuột cũng cần hết sức cảnh giác nếu tay có vết xước vì vi khuẩn gây bệnh dịch hạch có thể xâm nhập qua vết thương hở vào máu và gây bệnh.

3.1.1.1. Xét nghiệm

Bệnh phẩm : mủ (hạch ), máu, đờm, nhầy họng, phủ tạng, huyết thanh chuột, bọ chét. Nhuộm gram soi dưới kính hiển vi thấy trực khuẩn dịch hạch Yersinia pestis bắt màu gram âm thuộc họ Enterobacteriaceae.

Nuôi cấy phân lập vi khuẩn.

Phát hiện kháng nguyên F1.

Miễn dịch huỳnh quang.

3.1.2. Truyền bệnh sốt phát ban 

Bệnh xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới và thường được ghi nhận tại các vùng con người sống có nhiều chuột. Bệnh nhân gây do Rickettsia mooseri, gặp rải rát ở các đàn chuột. Vì vậy, bênh sốt phát ban do bọ chét còn được gọi là bệnh sốt phát ban chuột. Bệnh lây lan chủ yếu do bọ chét chuột và bọ chét mèo. Người bị lây nhiễm do ô nhiễm từ phân khô và xác bọ chét. Loài bọ chét chính có vai trò trung gian truyền bệnh là Xenopsylla cheopis.

3.1.2.1. Triệu chứng lâm sàng: Thời gian ủ bệnh từ 2 – 3 tuần, xuất hiện các ban đỏ ngoài da  vào khoảng ngày thứ 5, nhưng không xuất huyết. Thời gian sốt khoảng 2 tuần nhưng có thể rút ngắn khi sử dụng kháng sinh. Ít khi có biến chứng.

3.1.2.2. Xét nghiệm để chẩn đoán phân biệt với sốt phát ban do Rickettsia phát ban dựa trên phản ứng vi ngưng kết đặc hiệu với Rickrttisia mooseri ( hiệu giá tối thiểu 1/160 vào ngày thứ 10).

3.1.3. Truyền các bệnh sán

Bọ chét có thể truyền các loại sán ở chuột là Dipylidium caninum, Hymenolepis fraterna và Hymenolepis diminuta. Người bị nhiễm các loại sán này là do nuốt phải ấu trùng bọ chét có chứa trứng sán. Sán trưởng thành sống trong ruột non của vật chủ chính (chuột). Những đốt sán có trứng tách khỏi chuỗi đốt sán hoặc thành đốt sán đơn độc hoặc thành chuỗi đốt sán ngắn hơn, rồi sau đó chúng di chuyển tự do trong ruột qua hậu môn ra ngoài môi trường hoặc thấy trong phân chuột. Bằng cách di chuyển theo nhu động của các đốt sán có trứng, chúng ly giải trứng rơi vãi trên nền nhà và xung quanh hậu môn chuột. Trứng này được ấu trùng bọ chét tiêu hóa.

3.1.3.1. Biểu hiện lâm sàng:

Từ nhẹ đến vừa với các triệu chứng: chán ăn, biến ăn, rối loạn tiêu hóa nhẹ, khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy và ngứa vùng xung quanh hậu môn, suy nhược, thiếu máu, gầy sụt.

3.2. Bọ chét gây bệnh

3.2.1. Triệu chứng lâm sàng

Ngoài truyền bệnh, bọ chét có thể gây các bệnh da. Khi bọ chét đốt người để hút máu sẽ gây phản ứng dị ứng ở da. Đó là phản ứng của cơ thể với nước bọt của bọ chét tiết ra khi đốt người. Thời gian xuất hiện phản ứng da tùy thuộc vào từng đối tượng thường trong khoảng từ 12 đến 24 giờ sau khi bị bọ chét đốt. Trường hợp phản ứng muộn có thể xuất hiện sau 1 tuần. Ở Việt Nam thường gặp bọ chét chó ( Ctenocephalides felis) và bọ chét mèo ( Ctenocephalides canis). Ngứa là triệu chứng chính xuất hiện sau khi bị bọ chét đốt. Ngứa làm bệnh nhân gãi có thể gây trầy xước da, sau xuất hiện các sẩn huyết thanh kích thước 1 – 2 mm, giờ cao hơn mặt da, đỉnh chóp sẩn có mụn nước nhỏ.

Những trường hợp phản ứng mạnh ( hay gặp ở trẻ em) có thể thấy xuất hiện bọng nước tại vị trí bọ chét đốt, xung quanh có quầng đỏ gây viêm quầng hoặc gây viêm tấy đỏ lan tỏa, bội nhiễm… Những trường hợp phản ứng nhẹ thì chỉ thấy ban đỏ tại nơi bọ chét đốt giống như muỗi đốt.

Vị trí thương tổn thường gặp ở phần da hở hoặc ở những vùng da tiếp xúc trực tiếp với con vật khi người ta ôm, bế chúng như: vùng cổ, mặt, tay, chân, vùng quanh thắt lưng.

4. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH

Các biện pháp phòng chống được sử dụng tùy mục tiêu là diệt bọ chét truền bệnh hay bọ chét thông thường.

Để phòng chống bệnh dịch hạch và bệnh dịch sốt phát ban do bọ chét truyền phải kết hợp hai biện pháp: diệt chuột và phun hoặc rắc hóa chất tiêu diệt bọ chét vào nơi sống của chuột.

Đối với các loài bọ chét gây phiền hà có thể sử dụng các biện pháp tự bảo vệ cá nhân như chất xua đuổi côn trùng, dùng quần áo tầm hóa chất diệt côn trùng. Cần vệ sinh nhà cửa, phòng ngủ, thường xuyên giặt chăn màn, phun hoặc rắc hóa chất diệt côn trùng vào các khe, kẽ, góc phòng.

Đối vớ bọ chét chó, mèo sử dụng hóa chất rắc, phun, tắm vào lông của chúng hoặc dùng lufenuron. Lufenuron theo máu được bọ chét cái hút vào khi đốt vật chủ có tác dụng ngăn cản sự phát triển của trứng. Ngoài ra, có thể sử dụng vòng cổ có tầm hóa chất diệt bọ chét cho động vật.

(Tài liệu được biên soạn bởi PGS. TS. Trần Văn Tiến của Bộ môn Da liễu, trường Đại học Y Hà Nội)